- Lịch sử Phật giáo Việt
Nam
- Từ khởi nguyên đến thời
Lý Nam Đế
- Tiến sĩ Lê Mạnh Thát
- Chương VIII
- Sáu lá thư và cuộc khủng
hoảng
- của nền Phật gia'o thế kỷ thứ V
Sáu lá thư
Nguồn gốc Việt Nam về mặt điển cố lịch sử
Nguồn gốc Việt Nam về mặt điển cố thư tịch
Về tác giả và soạn niên của Sáu lá thư
Về Đạo Cao
Về Pháp Minh
Về Lý Miễu
Nền Phật giáo do Mâu tử và Khương
Tăng Hội gầy dựng đến thế kỷ thứ IV vẫn đang còn có những ảnh hưởng
mạnh mẽ. Chí Hàm viết Triệt tâm ký mà chúng tôi đã có dịp giới thiệu
ở trên đã nhắc đến Khương Tăng Hội với lòng ngưỡng mộ đặc biệt.
Tuy nhiên, bước sang thế kỷ thứ V thì một số phạm trù cơ bản của nền
Phật giáo Mâu Tử, Khương Tăng Hội đã biến thành đề tài tranh cãi,
trong đó vấn đề then chốt nhất đối với những người Phật giáo là tại
sao thực hành theo Phật giáo mà lại không thấy chân hình của Đức Phật
ở đời. Đây là đề tài bàn cãi của Sáu lá thư trao đổi giữa hai pháp
sư tên Đạo Cao, Pháp Minh và một "Sứ quân" tên Lý Miễu. Mấy
lá thư này là những áng văn xưa nhất của lịch sử văn học Phật giáo,
mà còn đối với lịch sử chính trị và văn hóa Việt Nam một cách tổng
quát.
Sáu lá thư này bày tỏ cho thấy Phật
giáo đã được dân ta tiếp thu như thế nào, những vấn đề gì mà họ
quan tâm nhiều nhất, từ đó, giúp ta xác định được sinh hoạt trí thức
và văn hóa chung của thời đại, Thực sự mà nói, chúng đã phơi trần một
cuộc khủng hoảng có tính chất căn để đối với toàn bộ tư tưởng và
tín ngưỡng Phật giáo vào thời ấy, ví chúng chỉa mũi dùi tra hỏi đến
vấn đề người theo Phật giáo thực sự có thể thấy Phật được không?
Đặt vấn đề như thế là nhắm đến trọng tâm của toàn bộ sinh hoạt
Phật giáo, vì sinh hoạt Phật giáo đâu có ý nghĩa gì khác ngoài mục đích
làm cho những người thực hành nó giác ngộ, nghĩa là tìm lại bản thân
đức Phật của mình, tìm lại bản chất Phật của mình. Do vậy, hỏi sao
không thấy chân hình của Phật đối với người Phật giáo là nêu lên những
nghi vấn về chính cái mục đích mình đang theo đuổi, là tự hỏi về sự
hiện hữu của chính mục đích đó. Có thể nào ta thấy đức Phật
chăng? Có thể nào ta giác ngộ chăng?
Nghi vấn và tự hỏi về mục đích
như vậy bao gồm luôn một nghi vấn và tự hỏi về giá trị phương pháp
nhằm đạt đến mục đích đó. Một mặt, ta hỏi mục đích có hiện hữu
không. Mặt khác giá như mục đích đó hiện hữu mà ta không đạt đến
được, phải chăng vì phương pháp của ta đã sai lầm? Sáu lá thư này sẽ
giúp cho thấy những câu hỏi như thế cần phải giải quyết ra sao trong bối
cảnh lịch sử Việt Nam thời đó, Chúng sẽ phơi bày không những nghi vấn
về giá trị của những phương pháp thực hành Phật giáo đang lưu hành
vào giai đoạn ấy mà còn biểu lộ cho thấy cái quan niệm về Phật do nền
Phật giáo Mâu Tử và Khương Tăng Hội thiết định đang mang trong mình một
số những mâu thuẫn cần giải quyết.
Sáu lá thư ấy ngày nay xuất hiện
trong Hoằng minh tập 11 ĐTK 2145 bản in Đại chính 11 dưới nhan đề
"Cao minh nhị pháp sư đáp Lý Giao Châu Miễu nan Phật bất kiến hình sự".
Việc này có thể làm cho ta nghĩ rằng, chúng đã được Hựu sưu tập sau
năm 513, nếu không là sau năm 495 - 498, bởi vì Hựu đã cho trích lời tựa
của Hoằng minh tập trong Xuất tam tạng kỷ tập quyển 12 ĐTK 2145 tờ
93b12-94a23 viết xong khoảng những năm ấy và bảo là Hoằng minh tập chỉ
có 10 quyển chứ không phải có 11 quyển như bản in Đại chính ngày nay
điểm chỉ.
Tuy nhiên, nếu ta đọc hết lời tựa
cùng bản liệt kê nội dung của nó, thì Sáu lá thư ấy lại được xếp
vào quyển thứ bảy cùng với những đối đáp giữa Hà Thượng Chi và Tống
Văn đế và một số văn bản khác của Tiêu Tử Lang..v.v. Trong đó, Hựu
cho ta biết tại sao và bằng cách nào cuốn Hoằng minh tập ra đời. Ông viết
ở tờ 93b26-c3: "hựu dĩ mạt học, chí thâm hoằng hộ, tĩnh ngôn phù
tục, phấn khái vu tâm, toại dĩ dược tật vi gian, sơn thê dư hà, soạn cổ
kim chi minh thiên, sao đạo tục chi nhã luận, kỳ hữu khắc ý tiển tà vệ
pháp, chế vô đại tiểu, mạc bất tất thám, hựu tiền đại thắng sỹ
thơ ký văn thuật, hữu ích tam bảo giả, diệc giai biên lục, loại tụ
khu quân, liệt vi thập quyển; phù đạo dĩ nhân hoằng, giáo dĩ văn minh,
hoằng đạo minh giáo, cố vị chi Hoằng minh tập". Sáu lá thư do
"Cao Minh nhị pháp sư đáp Lý Giao Châu Miễu nạn Phật bất kiến hình
sự" như vậy chắc chắn phải thuộc loại "tiền đại thăng sỹ
thơ ký văn thuật", và chắc chắn là được sưu tập nếu không trước
những năm 495-498 thì trước năm 513, năm Hựu hoàn thành bộ Xuất tam tạng
ký tập.
Tăng Hựu sinh năm 445 và mất lúc
ông 74 tuổi vào năm 519. Hai vị pháp sư Đạo Cao và Pháp Minh cũng như người
đệ tử của họ tên Lý Miễu, ngày nay chúng ta không biết một tí gì hết.
Những tư liệu lịch sử Trung Quốc và Phật giáo Trung Quốc từ Cao Tăng
truyện đến Tống thư đã không có một người nào với những tên ấy.
Những tư liệu lịch sử nước ta và Phật giáo nước ta cũng không có. Dẫu
thế, vì Tăng Hựu sinh và mất giữa những năm 445 - 519, niên đại của những
vị "tiền đại thắng sỹ" này phải rơi vào khoảng thế kỷ thứ
V. Điều này bản in đời Minh đã xác nhận với những tiêu đề cho những
lá thư ấy như "Đáp Lý Giao Châu thơ Tống Thích Đạo Cao" hay
"Dự Đạo Cao pháp sư thơ Lý Miễu".v.v., định tự một cách rõ
ràng, những người liên hệ quả đã sống vào thời Lưu Tống, tức giữa
những năm 420 - 478. Nghiêm Khả Quân (1762 - 1843) trng Toàn thượng cổ Tam đại
Tấn Hán Tam quốc Lục triều văn cũng đã xếp họ vào trong tập Toàn Tống
văn dành cho văn chương nhà Lưu Tống. Và những niên đại đây có thể đẩy
về một vài chục năm sớm hơn, như chúng tôi sẽ có dịp chứng tỏ dưới
đây, trong đoạn thử truy nhận căn cước những pháp sư và người đệ tử
của họ cùng trạng thái có thể của những người này trong lịch sử nước
ta. Ở giai đoạn này, chúng tôi cần cho người đọc thấy những lá thư
ấy.
Sáu lá thư [^]
Những lá thư này viết bằng Hán văn
và xuất hiện trong Hoằng minh tập ĐTK 2102 quyển 11 tờ 70a26-72a19 của bản
in Đại chính. Vì chúng tương đối khá dài, chúng tôi do thế chỉ cho xuất
bản dịch tiếng ta và xin người đọc tham khảo bản chữ Hán ở bản in
vừa nói. Một số điển cố trong chúng, chúng tôi xin để nguyên trong khi
dịch và sẽ bàn tới trong những chương tiếp theo.
Những lá thư ấy, theo chúng tôi biết,
thì chưa một cuốn văn học sử nào của ta, ngay cả những cuốn mệnh
danh viết về "Việt Nam cổ văn học sử" hay "Lịch sử văn học
Việt Nam thời Bắc thuộc" kể tới. Chính vì vậy được công bố
toàn vẹn ở đây để làm tư liệu cho việc viết một cuốn sách Văn học
sử Việt Nam đầy đủ hơn và giúp sửa soạn việc nghiên cứu lịch sử
tư tưởng Việt Nam một cách nghiêm chỉnh hơn sau này.
- Lá thư thứ nhất:
- Lý Miễu của Giao Châu viết cho
Cao pháp sư
Rằng, chỗ đạo trong vắng, bốn
đại lẽ thường, nhưng giáo pháp nhiệm mầu lan khắp mọi cõi. Nếu bảo
lời dạy ấy khéo hay lợi vật, độ thoát nhiều người thì sao chân hình
nó lại không hiện ở đời? Ấy phải chăng chẳng qua là nói suông không
thật? Nay chính là lúc phải nên tìm nguồn gốc phương tây của nó. Nguyện
xin đại Hòa thượng dũ lòng thương xót, nhận lấy lòng con, mà không tiếc
lời dạy thần tình.
Đệ tử Lý Miễu cúi đầu đảnh
lễ.
- Lá thư thứ hai:
- Đáp lại thư của Lý Giao Châu
Thích Đạo Cao thưa rằng:
Nhận được câu hỏi về dấu
tích ẩn hiện của đấng Chí Thánh, lý vị đã sâu rộng, mà từ nghĩa lại
rõ ràng, trân trọng lại xem qua đọc lại, thì lời hay càng thêm. Sư quân,
thành quách cao sâu, nhận được giáo pháp mà tự hỏi, thì đem hết ống
ngu của mình, để làm chuyện võng tượng đi tìm huyền châu.
Rằng, đức Như Lai ứng vật, phàm
có ba cách, một là hiện ra xác thân, phóng quang động địa; hai là để lại
Chính pháp, như khi Phật còn tại thế; ba là để lại tượng giáo từa tựa,
Pháp tắc từa tựa, Pháp tắc ngày nay đang đáp lại nhân tình, nhân tình
đang cảm lấy tượng giáo thì ai làm cho Phật hiện ra ư? Cho nên kinh Tịnh
Danh nói rằng: "Khéo hiểu được pháp tướng thì biết được căn cơ
của chúng sinh". Đến khi có ba hội Long Hoa ở thành Sí-đầu-mạt, nhân
tình cảm lấy sự hiện thân thì ai làm cho Phật ẩn đi ư? Cho nên kinh
Pháp Hoa nói rằng: "Lúc bấy giờ đức Phật cùng chúng Tăng đều ra
khỏi núi Linh Thứu". Cung vua Nhượng Khư đương nhiên có thể định kỳ
như thế, thì nguồn gốc phương Tây sao lại không thấy? Nhưng kẻ nghi ở
đời phần nhiều nói lời kinh không hợp, nên mắc phải sự ám muội thiếu
tình, ấy là vì lấy chuyện không thấy mà sinh trệ.
Rằng, Tam hoàng Ngũ đế, Tam đại
Ngũ bá, Cơ Đán Khổng Khưu san kinh Thi chế sách Lễ, đều chỉ nghe ở sử
sách, có ai thấy đâu? Họ Thích gióng trống Pháp tại vườn Nai, đức Phu
Tử dương lời đức ở Châu Lỗ, ấy đều là những việc tai mắt không
biết được và đều phải tin vào sách vở. Nếu không tin việc sau, thì
chẳng nhọc lòng nghi chuyện trước. Nhưng nếu đã hay rõ được việc sau
thì sao lại chỉ trệ ở chuyện trước?
Sứ quân nghĩ suy sâu rộng, xem suốt
ba đời, thì xin hãy tìm xem lời dạy của Thọ Lượng chưa dứt, gần theo
dấu Định Quang Nho Đồng, giữa suy tập Đại Thông Trí Thắng, để cởi
mở chỗ trệ mọi người. Như đem mây đùn che lấy thái dương, lời cạn
văn quê của bần đạo nói không hết lòng. Mong đến ngày gặp nhau, thì sẽ
nói rõ ràng hơn về vấn đề trên.
Kính bạch.
- Lá thư thứ ba:
- Thư của Lý Miễu viết cho Pháp
sư Đạo Cao
Lý con xin cúi đầu đảnh lễ,
Con xem đi xem lại lời bàn thanh
nhã của thầy vị thứ đã khu biệt, mà lời lẽ lại sâu đẹp. Con mong
đến ngày gặp rất nhiều. Cái gọi là "cảm hóa có lúc khác nhau,
Chánh pháp và tượng pháp lời lẽ hơi khác", thầy đã viện việc
ngoài để rõ nghĩa trong, trưng lấy văn để nghiệm sự thật, cẩn thận
theo lối mà dẫn tới đích, tất cả chúng không có chỗ nào hở hang hết.
Song rằng, căn do của sự giác ngộ
tất phải nhờ nhìn thấy, khi đã mắc vào ám muội thì phải sinh nghi.
Nghi ngờ không phải là cội nguồn của sự giác ngộ. Nếu sách vở đang
còn, thì những đời khác đều có thể hiểu được, và vạn thế về sau
có thể không đợi một bậc thánh để làm thầy. Nếu nay đã nhờ đến
cả tiếng tăm lẫn dấu tích, thì lời nói và hiện thân phải giúp đỡ
cho nhau. Đạo nghĩa đã bị khó khăn, bọn Nho Mặc đang tranh nhau nổi lên,
thì há để cho chính tín lu mờ, làm cho sự hủy báng hiểu lầm càng tăng
hấn sao? Có thể nào không thấy sự thị hiện và ấn ký để làm chứng
nhằm giữ lấy mình sao? Đấng Đại Thánh ban ra cái trí vô ngại, duỗi
lòng thương không cầu, thì sao lại tiếc cái ánh sáng rực rỡ của mình,
để làm tăm tối hơn những tài năng đi tìm hiểu, dứt hết cả hy vọng
của mọi người sau khi nhập diệt, và gia thêm tội lỗi trước lúc có ba
hội Long Hoa? Chó rơm suông đặt, thì ai mà có thể giác ngộ được? Nghi
tượng giả bày, thì ai mà có thể tin được?
Đến cái chuyện đế vương Cơ Khổng,
thì lời dạy của họ đều dừng lại ở đời này. Việc lai sanh, họ để
ra mà không bàn tới. Cho nên, sự ẩn hiện phế hưng quyền thật của họ
không cần phải nói. Nay đức Như Lai đạo nghiệp bao gồm cả ba đời, lòng
thương thấm nhuần khắp cả, thì không được lấy đời hiện tại mà
làm giới hạn. Mọi người mê muội đang tìm xin hiểu biết, thì không
được lấy việc nhập diệt mà cho là chỗ cùng. Vì thế, mà việc hóa độ
không thể hạn cục vào sách vở, và việc Phật la liệt bày ra hàng vạn.
Xin hỏi rằng, cái gọi là việc Phật ấy ngày nay nằm ở đâu ư? Nếu
như dẫn chuyệntin bên này, nghiệm bên kia, nhưng đấng Chí Thánh không ra
đời, Khổng và Thích hai đường khác nhau, tức sự mà bàn không phải là
không mâu thuẫn, thì chúng có cái gì có thể chứng nghiệm cho nhau ư?
Vì chưa thể im lặng bỏ đi, nên
con lại phải mượn lời, xin thầy giải rõ thêm một lần nữa, trong khi
chờ đợi gặp nhau cho việc trình bày rõ ràng hơn.
- Lá thư thứ tư:
- Lại đáp thư của Lý Giao Châu
Thích Đạo Cao thưa rằng:
Lại nhận được lời dạy sâu sắc.
Ý nghĩa đã đẹp đẽ, mà tôn chỉ lại cao xa, ba đọc chín suy mới nắm
hết chỗ uyên áo. Cho nên biết rằng, điều chí lý thì không phải người
tầm thường thiển cận có thể lường đo, lẽ vi tế ẩn khúc thì không
phải kẻ cạn cợt dốt nát có thể tham hiểu. Nay xin đem sự thường thiển
mà trình bày sơ cái sở hoài của mình.
Rằng, lấy muôn điều lành làm lời
dạy thì đường đi không phải là một. Có kẻ ngồi thiền trong rừng
rú, có người tu đức ở bên cạnh thành, hoặc cung kính chấp tay, hoặc
ca hát tán tụng ngâm vịnh, đều là những việc tai mắt cùng biết, và người
thực hành chúng cũng rất nhiều. Đó là bến bờ của sự thọ ngộ. Gọi
việc mắc sự ám muội, sao lại là nguồn gốc của sự thọ ngộ, ấy là
vì nếu đã nhìn thấy thì hà tất lại có sự mắc phải ám muội. Có mắc
ám muội thì mới sinh nghi. Nghi ngờ do thế cũng là cỗi gốc của sự
giác ngộ. Xin đáng bàn rõ điều này. Có nghi ngờ thì người ta đi tìm sự
hiểu biết. Có hiểu biết thì người ta có thể giác ngộ. Đã giác ngộ
thì vào đạo. Nếu không phải gốc thì nó là gì?
Tuy Nho Mặc đang tranh nhau nổi lên,
các học phái cãi cọ phải trái, ấy là vì ngọn đuốc cháy mãi không dứt,
chứ đâu phải trời trăng không sáng chiếu, thì sao lại phải gấp gáp
trong việc thị hiện và hấp tấp trong việc đồng qui? Nay không phải là
giống lúc đời mạt không chứng. Chứng nghiệm là để bày tỏ sự chân
thành, đồng thời cũng để tỏ ra nó không phải là lỗi của đấng Chí
Thánh đầy dẫy ánh sáng rực rỡ. Nhưng kẻ nghi cứ lấy việc không thấy
bản thân Ngài, rồi dài mê trong đại mộng, ngang ngạnh chìm trôi, để mà
chết đắm trong sanh tử. Tiên Nho vãng triết đều có nói sơ điều này từ
lâu. Đường không khác lối. Họ chỉ thuật lại mà không làm.
Rằng, quên mình mà đem hết lòng
thành thì tất có cảm. Có cảm tất phải có thấy. Không có cảm thì
không thấy. Người có thấy đem nói với kẻ không thấy cuối cùng cũng
không tin sự thấy. Thánh nhân không phải là không thường ở với quần
sanh, đâu phải là không thường thấy ư? Nghe Pháp âm mà bảo là hay, thì
chó rơm không thể nói là đặt suông, thấy hình tượng mà cung kính thì
linh nghi há là bày giả.
Cơ Khổng cứu đời đọa lạc không
nổi, thì rảnh đâu mà bày tỏ sự việc của lai sinh? Nếu Khâu và Đán
sinh gặp thời kết nối, họ đã nói rõ chuyện ba đời chẳng thôi. Ngài
hỏi, nay việc Phật nằm ở đâu ư, thì cúi đầu chắp tay, không gì là
không phải việc Phật. Chúng chỉ nhằm khiến người ta thâm ngộ một
cách có phương pháp. Chúng thù đồ mà đồng qui. Thư trước đã dẫn bên
này bên kia, kẻ nghi người tin, ấy chính vì người đời hễ không thấy
thì cho là không có thật. Cho nên phải nói chuyện không thấy của Chu và
Khổng để làm mực thước vậy. Đấy là để dắt dìu mà cùng theo nhau,
há có thể gọi là mâu thuẫn sao?
Sứ quân sinh ra đã biết sự không
giả dối. Với tài năng phú bẩm, ở vào địa vị của một đấng thiên
tử, dùng lấy sự nghĩ suy dĩnh thoát, bơi lội trong rừng nghĩa, đi lại tại
vườn sách, thì ngài có thể nghỉ ăn búi tóc tiếp khách, có rỗi bàn hay
suốt ngày. Lời hay đã nói thì không thể không lắng nghe. Bần đạo học
nghiệp thô thiển, rất thẹn lá thư. Trả lời xằng gọn, sợ làm bẩn vẻ
đẹp của văn đầy. Nghĩ lại càng thêm thẹn thùng, mồ hôi lấm tấm.
Kính bạch.
- Lá thư thứ năm:
- Thư của Lý Miễu viết cho Pháp
sư Đạo Cao
Lý con xin cúi đầu đảnh lễ
Lời bàn thanh nhã của thầy đã
làm rõ bến bờ của sự thọ ngộ, ấy là sự tự nghi. Được mắc ám muội
có thừa, chứ không cần phải nhìn thấy, có cung kính tán tụng thì đều
đủ để dẫn vào đạo vậy. Xem đi học lại, con càng thấy sự sâu sắc
của nó.
Song, cái gọi là tượng pháp và
chính pháp trái nhau, nên đi tìm sự giác ngộ, vì lý thô, phải mượn nơm
để chỉ bày tôn chỉ mà không cần phải nhờ đến sự thị hiện, điều
này vẫn giống như lý do Cơ và Khổng đã ban ra lời dạy của họ và ánh
sáng đã tỏ ra sự chiếu minh của nó. Một khi đã bày tỏ thì ai cũng nhận
được. Điểm này, sách vở đời ghi chú cũng đã nhiều đủ. Thế thì
phóng quang động địa mà làm chi ư?
Nếu chính tín không dừng lại ở
sự lạy lục, và việc Phật gồm đủ cả sự thực hành lẫn giáo hóa,
thì nguyên do của sự đại giác phải làm thần diệu cái nét đẹp của nó,
để cho việc đi tìm có thể định được sự bắt nguồn. Cho nên, biết
rằng, người tin thì tất phải dùng đến Nho Mặc để giải quyết những
nghi ngờ, và kẻ học thì sẽ do dự không chứng mà tự hối hận. Tam
hoàng Ngũ đế, dù có bỏn sẻn sự minh triết, cũng không phải là lỗi của
họ. Mười hiệu của đức Phật, tuy thầm lặng chiếu sáng, đã diễn hết
mọi đạo đức. Chúng há lại không biết sao?
Còn về chuyện Cơ và Khổng chỉ
trọng đến cứu đời tọa lạc, mà không rảnh để đề cập tới lai
sinh, và chuyện giả như họ sống vào thời kết nối thì đã tự nói rõ
cả việc ba đời, những chuyện này lại cũng không phải thế. Bảy kinh
trình bày, ý nghĩa gồm cả tới những gì chưa đến. Sách Phật phu diễn
sự việc thì dừng lại ở duyên báo. Cho nên kinh Dịch nói rằng: "Chứa
lành thừa vui, chứa dữ thừa khổ", và kinh Phật dạy: "Không có
chủ thể làm, không có đối tượng làm, không có kẻ bị làm, hành động
lành và dữ cũng không mất". Điều này chứng tỏ lời dạy về duyên
báo là một lẽ thường mà giáo huấn cả hai bên đều đã truyền rộng,
há có thể bên này vụ điểm này, bên kia chú trọng điểm kia ư?
Bàn lại những điểm ấy lại càng
hay, nên con xin nói lại chúng vậy. Hy vọng thầy lại đem điều mới trình
bày những chỗ khác để gột rửa cái trệ của xưa nay, khiến cho đường
cong thành thẳng, chướng ngại lại thông. Thầm nguyện Đại hòa thượng
duỗi lòng thương rộng nhận chút lòng con.
Đệ tử Lý Miễu kính trình.
- Lá thư thứ sáu:
- Đáp lại thư của Lý ở Giao
Châu
Thích Pháp Minh thưa rằng:
Lá thư dài vừa mới tới, trân trọng
xem nó suốt ngày. Nó thơm tựa lan rừng, thanh như gió huệ. Bần đạo tài
năng không phải là của Sương Dĩnh, thời vận không phải là của Bào
Sinh, việc làm thì sai trái, lý luận thì hở hang, chỉ vấp phải nghi ngờ
từng đống, ấy đều vì lời dốt ý trệ. Song đã gắt hỏi thì xin
trình tỉ mỉ vụn vằn như sau:
Kẻ ngu này cho rằng, nghi ngờ điều
mờ ám, ghi nhớ sự lạ lùng, nhìn thấy việc thị hiện, cung kính tán tụng,
cảm động linh biến, đều là bến bờ dẫn về chỗ đạo, là cơ hội đẹp
đẽ cho sự thăng hoa. Cho nên thắc mắc và nhìn thấy đáng được nêu đều,
nghi ngờ và chứng nghiệm đáng phải đi đôi, thì há có thể quăng phăng
sự thị hiện, mau tiết lộ vỏ thần thái, để đặt đức Phật ngang hàng
với Cơ và Khổng, xếp giáo pháp cùng với lời dạy của đời được
sao? Phong quang động địa đều là lời suông.
Rằng, pháp thân ngưng tịch, sắc màu
sáng trong, cho nên có thể ẩn hiện theo thời, hành tàng chẳng biết. Hiển
thì dựa theo sự thật mà ra. Ẩn thì khéo trôi mà đi. Thế, đã nói đi tìm
tôn chỉ, sao lại phải dòng dài về mười hiệu? Tia lóe của một ánh thừa
cũng đủ làm sáng rạng cả cái đời đồi trụy này thì người tin há
đi lấy một đốm lửa leo lét để làm tăng thêm nỗi nghi ngờ của mình
sao? Chỉ cần hướng đến mặt trời mới rạng thì trắng đen sẽ sánh
vai nhau. Tháp tượng kinh sách đầy khắp cả thế giới, kẻ học há lại
đi lấy điều không chứng để tự hối hận sao?
Ngài lại dẫn đến bảy kinh, ý
nghĩa gồm cả những gì thuộc vị lai như "chứa lành thừa vui, chứa
dữ thừa khổ", thì tuy nói thế, chúng đã không nói đến việc sinh
diệt đổi mới, đổi vai gánh thay, hành động lành dữ không thể không
chịu báo được. Điều này quả đã rõ cả đời, càng rộng rãi sâu sắc
hơn cả bảy kinh. Dù vậy, trưng văn để nghiệm lấy sự thật, điểm ấy
vẫn được lắm. Thư trước ngài nói rằng "Đế vương Cơ Khổng lời
dạy dừng lại ở đời này, viện lai sinh họ để riêng ra mà không bàn tới,
cho nên sự ẩn hiện phế hưng quyền thật của họ không cần phải
rõ", thì tựa hồ như có vẻ mâu thuẫn. Song, ý nghĩa nó bây giờ đã
ổn ký thì đáng lòng thương không nên trách. Chỉ xin nghe rõ hơn nữa điều
sâu sắc.
Thơ đáp trước có nói sơ đến đấng
Chí Thánh và sự chìm nổi của chúng sinh, nhưng nghĩa cứ chưa rõ ràng, lời
lẽ chưa thông suốt, nên nay xin bàn rõ lại, để cùng nhau rộng truyền đạo
lớn.
Rằng, quần sinh dài mê trong ba
cõi, chúng thức tối mờ trước sáu trần, trôi chìm với sinh tử là ông
chúa của sự cấu xé ăn nuốt, tương tục ở tâm thức là bánh xe của sự
lăn lóc luân hồi, xác thân thì đầy dẫy quán trọ của nghịch lữ, tâm
hồn thì chỉ đáng cho khách khứa nghỉ chân, lui tới trong ba ác mà khổ sở,
qua lại trong tám nạn mà chua cay, hân lạc thì tạm vui mà lo sợ suốt kiếp;
một thân chết đi lại chịu một thân khác. Dẫu thế trí biện thông,
sách vở đầy bụng, trăm nhà thấu suốt, chín phái rõ qua, biết sống chết
có mạng, giàu sang tại trời, quỉ thần không thế đòi hỏi, thánh hiền
không thể dự tri, ấy cũng chưa thoát khỏi sự sai lầm để che lấp tâm
tình hay sự nghi ngờ từa tựa để lo nghĩ lông bông. Rồi phó thác cho đồng
bóng, đầu thành với phù chú, ôm lấy chuyện bậy để hy vọng điều phải,
giữ chặt việc giả để chờ đợi sự chân, chần chờ hai lòng, trù trừ
đôi ngã, thì Phật dù có phóng quang động địa, ai mà có thể thấy cho
ư? Sở dĩ sách Phật lưu bố, ấy là giống như bày nơm mà chờ cơ. Căn
cơ động thì tất có cảm. Có cảm thì sau đó tất có lứng vậy.
Tự khi đặt chí vào nhà huyền, dốc
hết lòng vào chỗ uyên áo, rõ được mạng người như giọt sương mai, hiểu
được ba đời là không giả, thì phải tung mở cái thuật thanh chân, kiểm
chận lấy con đường trược giả, gầy đức nhổ tà mà tà vẫn um tùm,
trồng phước vun chính mà chính vẫn thưa thớt, khổ tiết giành lấy thời
gian với tấc bông, sạch mình tranh lại phút giây với già nua, ôm ấp
lòng thành, bảo hoài chí hướng, cho đến khi có cảm thì mọi việc liền
thông. Há lại không tự mình đem lấy ánh sáng quang minh mà thấy được sự
linh biến của nó đó hay sao? Hoặc qua sự chứng kiến rõ ràng của tai mắt
hoặc qua sự mơ thấy trong giấc mộng như Hán Minh đế nhơn mộng mà thấy
được đấng Chí Thánh, đại pháp do thế mà đã du nhập Trung Quốc, vua
chúa đem hết lòng thành để trở về với bậc đức, anh hào vén áo để
được giáo hóa, Sa-môn sánh vai với vương công, tăng ni trực cung trước
thiên tử. Đối với 96 thứ ngoại đạo thì ai là cao hơn?
Tống Vũ Hoàng đế, khi mới lên
ngôi, nằm mộng thấy một thầy tu mang bát đến xin, nhân thế mà nói rằng:
"Ông đời trước vì bố thí cho Phật Di Vệ một bát cơm, nên nay mới
được ở ngôi này", bèn sai đến hỏi Nghiêm công giải bày thực giả.
Nghiêm công liền đưa kinh Bảy Phật cho xem. Chúa Ngô là Tôn Quyền ban đầu
nghi Phật pháp không nghiệm, đáng nên đình chỉ bãi bỏ, thì liền nhận
được ngọc xá lỵ, chiếu sáng rực rỡ, vàng sắt không thể dập nát,
lò nung không thể thiêu cháy, nay đang còn thấy ở chùa Kiến sơ tại kinh
đô. Ngô quận có một tượng Phật đá, nổi trên nước biển, đạo sỹ
đồng cốt, người theo hàng trăm, ra vẻ phù đọc chú, đánh trống nhảy
múa, không một tên có thể làm nhúc nhích. Năm sáu thầy tu cung Chu Trương
và khoảng bốn người đã nhẹ nhàng nâng lên và cùng nhau bưng đi một cách
dễ dàng, tức nay thấy tại chùa Ngô quận Bắc. Thuần thành chí đáo,
thì không gì là không có cảm ứng. Nhà Chu Trương suốt đời thờ Phật,
do thế mà thấy được sự ứng nghiệm. Quách Văn Cử sùng phụng Tam bảo,
chính tín kiên minh, tay rờ họng cọp, rất biết sự an nguy. Lan công phủi
tuyết buốt cho thú dữ, hộ công cảm suối khô thành dòng nước lũ, họ
đều là những bậc cao hạnh siêu quần, thanh trần thoát tục mà hành
tích khác thường đều có ghi lại ở đời vậy. Ngoài họ ra còn không biết
bao nhiêu nữa.
Bần đạo lúc nhỏ học hành nhác
nhớm, nên đến khi bạc đầu trở thành quê mùa cạn cợt; tỏ rõ lòng
thành của mình, thì lời chẳng văn vụn, vị tất có thể hoa mỹ nên sợ
không duẫn đáng. Suy đi nghĩ lại càng thêm thẹn thùng.
Kính bạch.
Hật bút:
Tống cư sĩ ở Kinh Châu làm ra quyển
Minh Phật luận, bảo rằng, theo lời thuật của Bác Ích trong Sơn hải kinh
thì nước Thân Độc gần người mà thương người. Quách Phác chú thích
là, Thân Độc tức là Thiên Trúc, nơi Phù đồ đang nổi lên - Phù đồ tức
Phật đó vậy. Liệt tiên truyện của Lưu Hướng kể lại 47 người tiên
trong kinh Phật. Đó phải là do cái nhìn hẹp hòi về vấn đề ấy của những
học giả, chứ không phải là Phật giáo bắt đầu với Hán Minh đế. Nhờ
sự nhân tử thánh thiện tên Trừng vào thời Thạch Lặc và Thạch Hổ đã
gọi Hổ bảo rằng: "Tại chỗ chùa vua A Dư xưa trong thành Lâm Truy
còn có cái tháp hứng sương có một bức tượng ở dưới một gốc cây lớn
tại rừng sâu cách đất khoảng hơn 20 trượng". Hổ sai sứ giả y
theo bản đồ đào tìm thì được đúng như lời nói - Vua A Dư tức là vua
A Dục vậy. Chú của Diêu Lược là Tấn vương ở Phố Pha Hà Đông. Ở chỗ
mà những người già gọi là chùa vua A Dục, ông thấy có ánh sáng lóe ra,
bèn dục tìm được xương Phật trong một hộp bạc tại một tráp đá
sáng tỏa lạ thường, theo đường nghênh về kinh đô ở Nghiệp, dâng lên
cho các Tỷ-kheo, nay thấy tại chùa Tấn. Do đó, thấy rằng, Phật sự có
khắp đất Tấn đã lâu vậy. Sở dĩ nó không được nói đến ở thời
Tam đại, ấy cũng giống như các cuốn sử của Can Bảo và Tôn Thạnh đã
không nói đến sự diệu hóa thật rõ của đức Phật đã có tiến bộ
và thạnh hành ở Giang tả vậy.
Nguồn gốc Việt Nam về mặt điển cố lịch sử [^]
Đây là Sáu lá thư được bảo là
những thành quả sống sót của những trao đổi giữa Lý Miễu của Giao
Châu và hai pháp sư Đạo Cao và Pháp Minh. Sau lá thư thứ sáu, có một đoạn
văn mà chúng tôi gọi là "Hậu bút", và nói không gì hơn là một
trích dẫn từ Minh Phật luận của Tôn Bính (374-443) do Tăng Hựu sưu tập
lại trong Hoằng minh tập ĐTK 2102 tờ 12c12-18. Bính viết Minh Phật luận nhằm
trả lời những vấn đề do Quân thiện luận của Huệ Lâm nêu lên. Trong
đoạn trích trên, chủ ý của Bính là nhằm chứng minh rằng, Phật giáo đã
được biết tới và xuất hiện rất lâu trong lịch sử Trung Quốc ngay cả
vào thời Tam hoàng Ngũ đế. Bính chẳng hạn kể đến cái câu "đông
hải chi nội, bắc hải chi ngung, hữu quốc viết Triều tiên Thiên độc, kỳ
nhân thủy cư, ôi nhân ái nhân" của Sơn hải kinh trong Sơn hải kinh tiển
sớ quyển 18 tờ 1a, mà ta được bảo là do Bá Ích, người con thứ hai của
vua Thuấn, viết có lẽ vào thế kỷ thứ XXII tdl. (!), tuy rằng, Sơn hải
kinh, cứ vào những bằng cớ nội tại của nó, thì phải viết vào khoảng
thế kỷ thứ I tdl hay sdl., mà Quách Phác (276-324 tdl) hơn ba trăm năm sau đã
viết một chú thích.
Về quyển Liệt tiên truyện của Lưu
Hướng, Chí Bân cho biết trong Phật tổ thống ký viết năm 1269 quyển 35
ĐTK 2035 tờ 329a 17-21 là: "Hồng hy năm thứ hai Quang lục đại phu Lưu
Hướng kiểm sách ở các Thiên bộc, thỉnh thoảng có thấy kinh Phật. Hướng
viết Liệt tiên truyện, nói rằng: "Tôi tìm xem trong thư viện, lục
truy Liệt đồ do Thái sử soạn thì thấy, từ Hoàng Đế trở xuống cho đến
nay 700 người đã đắc đạo tiên. Xét sự thật giả của số đấy thì
còn lại được 148 người, trong đấy 74 người đã tìm thấy trong kinh Phật".
Hồng Hy năm thứ hai nhà Tây Hán tức là năm 19 tdl.
Về chuyện Thạch Hổ và người chú
của Diêu Lược, thì tuy chuyện chú Diêu Lược ngày nay ta không biết một
tí gì rõ ràng, chuyện Thạch Hổ ta có thể tìm thấy trong bản tiểu sử
của Phật Đồ Trừng ở Cao Tăng truyện quyển 9 ĐTK 2060 tờ 38b13-387a29.
Thạch Lặc và Thạch Hổ lập nên nhà Hậu Triệu và trị vì giữa những
năm 329-350, trong khi Phật Đồ Trừng mất vào năm 348 lúc ông 117 tuổi.
Viện dẫn những chứng cớ vừa
nói ra, Tôn Bính nhằm trả lời câu hỏi, nếu Phật giáo có mặt ở Trung
Quốc từ xưa thì tại sao lại không thấy nói đến ở thời Tam đại tức
thời nhà Hạ, Thương và Chu? Bính bảo là, ngay cả những cuốn sử của
Can Bảo và Tôn Thạnh, mà tiểu sử ta tìm thấy trong Tấn thư quyển 82 tờ
8al-9a3 và 6b10-7b7 kiểu Tấn ký hay Ngụy thế xuân thu cũng không nói gì hết
đến chuyện "Phật diệu hóa thật chương hữu tiên nhi thạnh ư Giang
tả", nghĩa là, những cuốn sử viết cách Bính và những người thời
ông không bao xa. Tôn Thạnh sinh năm 302 và mất vào năm 373, một năm trước
khi Tôn Bính ra đời. Vạch ra những điểm này, chúng tôi có ý nhằm cho thấy
những truyền thống lịch sử Phật giáo và văn hóa khác nhau giữa những
người viết Sáu lá thư và tác giả Minh Phật luận. Để rõ hơn, chúng ta
phải phân tích những chứng cớ, mà Pháp Minh đã dẫn ra trong lá thư thứ
sáu, cho việc chứng minh sự cảm ứng linh biến của đức Phật "hoặc
qua sự chứng kiến rõ ràng của tai mắt, hoặc qua sự mơ thấy trong một
giấc mộng", và chúng gồm 7 thứ sau:
Thứ nhất là chuyện Hán Minh đế
mộng thấy Người Vàng và Phật giáo đến Trung Quốc. Từ ngày Tôkiwa đã
vội vàng giả thiết Mâu Tử lý hoặc luận là một ngụy tạo của Huệ
Thông và từ đó kết luận chuyện "Hán Minh đế mộng thấy Người Vàng"
cũng thế, hầu hết những người nghiên cứu, dù có bất đồng ý kiến
và chỉ trích Tôkiwa đi nữa, ít khi thử vạch ra sự sai lầm dữ kiện của
người này.
Theo Cao Tăng truyện quyển 7 ĐTK
2059 tờ 374c28-375a6 thì Huệ Thông "đến dừng lại ở chùa Trị
Thành.. Từ Trạm Chi từ Đông Hải, Viên Sán từ Trần quận kính trọng,
dùng lễ thầy bạn. Hoàng đế Kiến Vũ gia hậu sủng ái, sai làm bạn với
hai vương Hải Lăng và Tiểu Kiến Bình. Viên Sán viết Cừ Nhan luận đem
đưa cho Thông coi.. Thông viết nghĩa sớ cho những kinh Đại phẩm và Thắng
man, những luận Tạp tâm và Tỳ đàm, cùng Bác Di hạ luận, Hiển chứng
luận v.v.. đều có truyền ở đời, đến Tống Thăng Minh ông mất, thọ
63 tuổi".
Thăng Minh là niên hiệu của Tống
Thuận đế kéo dài từ năm 477 đến 478. Nếu Thông mất khoảng Thăng Minh,
thế có nghĩa, niên đại của Thông phải rơi vào khoảng 415 - 478. Xác định
kiểu này thì ngay cả khi Mâu Tử lý hoặc luận là một ngụy tạo của
Thông, một luận đề hoàn toàn sai lầm, mà chúng tôi có dịp chứng tỏ,
ta cũng không thể khẳng định là, thuyết "Minh đế mộng kim nhân",
đã ra đời với Huệ Thông, bởi vì pháp sư Pháp Minh đã kể đến nó và
pháp sư này phải sống vào khoảng những năm 370 - 456.
Nói thế, chúng ta dĩ nhiên chưa kể
đến cái chú thích của Lục Trừng về Mâu Tử lý hoặc luận trong cuốn
Pháp luận của ông, mà Tăng Hựu đã cho thu thập lại trong Xuất tam tạng
ký tập quyển 12 ĐTK 2145 tờ 82c29-83al, theo đấy "Mâu Tử bất nhập
giáo môn, nhi nhập duyên tự, dĩ đặc tãi Hán Minh chi tượng pháp sơ truyền
cổ giả - Mâu Tử không xếp vào loại sách dạy, mà vào loại sách nhập
đề, bởi vì nó đã đặc biệt ghi lại lúc tượng pháp mới truyền vào
thời Hán Minh đế - Những dòng này, Trừng phải viết trước năm 470, bởi
vì khi Tống Minh đế ra lệnh soạn cuốn Pháp luận ấy thì ông đang còn
ở tại chức Trung thơ thị lang, như Tăng Hựu đã ghi, trong khi vào năm 470
ông đã bị đổi qua chức Ngự sử trung thừa vì mắc tội.
Và đó cũng chưa kể đến thuyết
của Viên Hoằng (328 - 376) trong Hậu Hán ký. Dẫu sao đi nữa, với những củ
soát vừa thấy, ta có ít nhất là hai truyền thuyết khác về giấc mộng
Người Vàng của Hán Minh đế, ngoài truyền thuyết của Huệ Thông, vào thế
kỷ thứ năm. Những truyền thuyết này, tất cả chúng đều phải rút ra từ
Mâu Tử lý hoặc luận, và giữa chúng thì thuyết của Hán Minh có lẽ là
xưa nhất, một điều không có gì là đáng ngạc nhiên cho lắm nhưng rất
lôi cuốn bởi Lý hoặc luận đã viết tại nước ta và là một sản phẩm
văn hiến đầu tiên của Phật giáo Việt Nam. Ý nghĩa của nó sẽ trở
nên rõ ràng hơn với những bàn cãi về những chứng cớ tiếp theo.
Chứng cớ thứ hai Pháp Minh dùng
là chuyện Tôn Quyền tin Phật vì viên ngọc Xá-lị. Như Zurcher đã nhận
thấy, lá thư của Pháp Minh là văn kiện đầu tiên kể đến chuyện thần
dị này, mà sau đó ta thấy xuất hiện trong hầu hết những bản tiểu sử
của Khương Tăng Hội. Bắt đầu với Xuất tam tạng ký tập quyển 13 ĐTK
2145 tờ 97 98b2 của Tăng Hựu và Cao Tăng truyện quyển 1 ĐTK 2060 tờ 325a
13-326b13 của Huệ Đạo.
Khương Tăng Hội từ thời Đàm
Thiên và Thông Biện trở đi thường được coi như một người truyền đạo
đầu tiên ở nước ta cùng với Mâu Bác, Chi Cương Lương và Ma Ha Kỳ Vực.
Quan niệm lịch sử này về vai trò của Hội ngày nay đã chứng tỏ là
không chính đáng, nếu không là hoàn toàn sai, như chúng tôi đã vạch ra
ở chương trước.
Trong An ban thủ ý kinh tự mà Tăng
Hựu sưu tập lại trong Xuất tam tạng ký tập tờ 43b24-c1 và Thang Dụng Đồng
coi như viết vào khoảng năm 229, Hội đã cho ta biết thế này về tình trạng
Phật giáo nước ta qua lời tự thú sau: "Tôi sinh muộn màng, nên tuổi
mới vào thời vác củi thì hai thân đều mất, ba thầy đã táng, ngước
trông mây trời, buồn rầu không biết hỏi han ai, nín lời nhìn lấy (cuốn
sách), tự nhiên ứa lệ. Song phúc xưa chưa hết, nên gặp được bạn Hàn
Lâm từ Nam Dương"..
Rồi, trong Pháp Kính kinh sự ở Xuất
tam tạng ký tập tờ 46C2-11 Hội cũng lập lại những cảm hoài đầy nước
mắt về những vị thầy của ông tại nước ta: "Kỵ đô úy An Huyền
và Nghiêm Phù Điều từ Lâm An, hai vị hiền đây.. đã đem hết trí óc
mình, dịch lấy cuốn kinh này.. lời nói đã đúng theo văn xưa, mà ý lại
vi diệu.. nhưng nghĩa nó đã bị chận đứng không thông, nên tôi mạo muội
đem hết chỗ ngu của mình làm lấy chủ nghĩa này. Tang thầy đã nhiều năm,
nên không do đâu mà hỏi lại được. Lòng rười rượi, miệng tấm tức,
dừng bút xót thương những ai theo dõi dấu xưa, quyến luyến thánh giáo, nước
mắt bỗng tự nhiên chảy ròng ròng. Nay xin ghi lại những điều mình biết,
giúp giải quyết những nghi ngờ, đợi chờ những bậc cao minh về sau. Giả
như có sự xướng thành, ấy là nhằm làm rõ Tam bảo vậy".
Chứng cớ thứ ba của Pháp Minh là
cái tượng thờ ở chùa Ngô quận Bắc. Một lần nữa, Pháp Minh là người
đầu tiên ghi lại sự thần dị của tượng Phật này cũng như sự thành
công của Chu Trương trong việc vớt nó lên, trong khi những bọn đồng cốt
thầy pháp đều thất bại, và sau đó Huệ Hạo đã ghi lại trong Cao Tăng
truyện quyển 13 ĐTK 2060 tờ 409b6-410a7 tại bản tiểu sử của Thích Huệ
Đạt, tuy đã đổi tên Chu Trương thành Chu Ứng.
Hạo kể lại chứng cớ này một
cách chi tiết như sau: "Đạt.. lại đông du tới Ngô huyện bái thạch
tượng, vì bức tượng ấy vào năm Quý Dần niên hiệu Kiến Hưng thứ nhất
(313) thời cuối nhà Tây Tấn nổi lên tại cửa Hồ Thục của sông Ngô
Tùng. Những người đánh cá cho đó là vị thần biển, tìm đến để nghênh
thì sóng gió nổi lớn; họ khiếp sợ trở về. Lúc ấy có những kẻ thờ
phụng Hoàng Lão cho đó là hiển thần của vị Thiên sư của họ, lại cùng
nhau đến nghênh, sóng gió vẫn như xưa. Sau đấy có một cư sĩ thờ Phật
là dân Ngô huyện tên Chu Ứng nghe, bèn than rằng: "Ấy nếu không phải
là đấng Đại Giác thì ai mà ứng hiện ra đó?" Rồi trai giới cùng với
Bạch Ni chùa Đồng Vân và vài tín giả đến cửa Hồ thục, cúi đầu chí
thành, ca tụng lời nguyện rất khẩn, thì sóng gió đều dứt, xa thấy hai
người nổi trên sông mà đi, ấy là những tượng đá, sau lưng một có
tên Ca Diếp, một có tên Duy Vệ; họ liền nghênh về an trí ở chùa Huyền
Thê".
Trước khi kể câu chuyện này, Hạo
cũng cho biết thêm là, Đạt đã xuống miền Nam Trung Quốc, đặc biệt là
Hợp Phố, để chiêm bái một tượng Phật bằng châu do một người tìm
châu ở Hợp Phố tìm thấy và trao lại cho thứ sử Giao Châu lúc bấy giờ
là Đào Khản vào năm 318. Cuối đời Đạt, Hạo bảo là, ông không biết
Đạt đi đâu và mất vào năm nào hay thọ bao nhiêu tuổi, dù vào khoảng
niên hiệu Ninh Khương, nghĩa là khoảng giữa năm 373-375, Đạt đã tới Kiến
Nghiệp trên đường xuống chiêm bái ở Hợp Phố và Ngô quận. Huệ Đạt
do thế rất có thể đến nước ta, nhất là vào khoảng thế kỷ thứ IV
và V, Giao Chỉ đã là một nơi nổi tiếng với những danh địa của nó,
như ta sẽ có dịp thấy khi bàn với Quách Văn Cử.
Chứng cớ thứ tư là chuyện Quách
Văn Cử thò tay vào họng cọp mà không sợ. Văn Cử là tự của một dật
dân tên Quách Văn, và tiểu sử đã được ghi lại trong Tấn thư quyển 94
tờ 9a 5 - 10a 8, do Đường Thái Tôn (597 - 649) viết. Cứ vào tiểu sử ấy,
thì Văn là một người tu tiên làm nhà trong núi không dính líu gì đến Phật
giáo hết tuy Cao Tăng truyện quyển 7 ĐTK 2059 tờ 369c26 có dẫn tên ông. Về
chuyện thò tay vào họng cọp, thì truyện thuật rằng, một hôm Văn đang
ở trong rừng, gặp một con cọp há miệng ra, ông liền thò tay vào và lấy
một thanh xương đang chận họng ra cho cọp. Cọp biết ơn, nên thường bắt
nai đem đến trả ơn. Người ta hỏi, ông không sợ cọp sao, ông đáp
"nếu mình không có lòng sát hại nó thì nó không làm gì mình".
Khi ông mất, có lẽ vào khoảng năm 320-330, Cát Hồng và Dữu Xiển đã viết
tiểu sử lưu lại, ca ngợi sự đẹp đẽ của cuộc đời ông.
Hoạt động của Văn Cử như vậy,
hầu như hoàn toàn giới hạn ở rừng núi Trung Quốc. Việc tiếng ông vang
đến cả nước ta chắc chắn phải qua trung gian của Cát Hồng. Tiểu sử
của Hồng nằm ở Tấn thư quyển 72 tờ 7b11-9a9, theo đó thì Hồng, khi về
già muốn luyện đơn để cầu sống lâu, đã xin Tấn Thành đế vào khoảng
những năm 326-336 ra làm quan lịch tại huyện Cú Lậu của quận Giao Chỉ nước
ta. Thành đế không cho, vì nghĩ rằng Hồng là một bậc đại thần của
Triều đình thì sao lại nhận một chức nhỏ bé như quan lịnh. Hồng trả
lời là, vì ông nghe Giao Chỉ sản xuất linh đơn, nên muốn ra đó mà luyện
đơn. Vua bằng lòng. Nhưng khi tới Quảng Châu, viên thứ sử ở đó tên Đặng
Nhạc không cho phép ông đi, nên ông phải dừng lại và luyện đơn tại núi
La Phù.
Một lần nữa, bản tiểu sử của
Hồng ở Tấn thư không nói gì hết về những liên lạc của ông đối với
Phật giáo. Tuy nhiên, cứ vào Phật tổ thống ký quyển 36 ĐTK 2035 tờ
339c5-8, thì Cát Hồng đã viết một tấm biển cho chùa Linh Ấn do một nhà
sư Ấn Độ dựng ở núi Vũ Lâm tại Tiền đường vào năm 326. Và cái
chú thích ở quyển 37 tờ 348a7-15 cũng ghi lại chuyện Hồng muốn làm quan
lịnh tại huyện Cú Lậu ở nước ta, để luyện đơn. Hồng để lại nhiều
sách và mất vào lúc 81 tuổi, khoảng năm 363.
Chứng cứ thứ năm là chuyện Lan
công phủi tuyết buốt cho thú dữ. Lan công đây dĩ nhiên là Vu Pháp Lan, vị
sư đã đến nước ta khoảng những năm 320 trên đường đi tham bái Phật
tích ở Ấn Độ, nhưng không may đã mắc bệnh và mất tại vùng Trị
Thiên ngày nay, mà ta đã có dịp nhắc tới ở trên. Việc phủi tuyết buốt
cho thú dữ Cao Tăng truyện quyển 4 tờ 349c29-350a 3 viết: "Tính Lan ưa
núi sông hang động. Thường vào những mùa đông tuyết lạnh buốt xương,
có cọp vào phòng mình. Thần sắc Lan không đe dọa, nên cọp cũng rất thuần,
đến sáng hôm sau tuyết hết rơi, cọp ra đi". Nó như vậy không nói
rõ Lan trực tiếp phủi tuyết cho cọp. Dẫu vậy, vào cuối thế kỷ thứ
IV người ta đang còn truyền tụng về khả năng "lành nhiếp cọp dữ"
của Lan, từ đó giả thiết Lan đã có những giao tiếp như thế nào đấy
với cọp. Chi Tuần (314-366) đã vẽ tượng Lan để thờ, viết bài tán để
ca ngợi cuộc đời Lan thế này:
- "Họ Vu vượt đơn
- Nắm cả huyền chỉ
- Ưa lánh rừng núi
- Lành nhiếp cọp dữ".
Việc Lan phủi tuyết cho cọp do thế
đang còn phổ cập nhiều trong nhân gian.
Chứng cứ thứ sáu là chuyện Trúc
Pháp Hộ làm cho suối khô trở thành có nước. Cứ Cao Tăng truyện quyển
1 ĐTK 2059 tờ 326c2-327a12 và Xuất tam tạng ký tập quyển 13 ĐTK 2146 tờ
97c19-98b2 thì câu chuyện này được mô tả như sau:
"Đến cuối đời Tấn Vũ đế,
Hộ vào ở ẩn rừng sâu, rừng có một suối nước trong, mà ông thường
đến tắm giặt. Sau có một người hái củi tới phóng uế bên bờ, nó bỗng
nhiên khô cạn đi. Hộ bèn ngồi than: "Người chi mà thất đức, đến
nỗi khiến cho giòng nước hết chảy, nước nếu khô mãi, thì mình thực
không tự cung cấp được, chính là lúc nên dời đi". Than xong, thì suối
bỗng trở thành một dòng nước chảy mạnh. Ấy chính là lòng thành của
Hộ đã làm cho có sự cảm như vậy. Cho nên, khi Chi Tuần làm tượng ông,
đã ca ngợi rằng:
- "Hộ công trong vắng
- Đạo đức đẹp sâu
- Hang cùng nhẹ vãn
- Tuôn nước suối khô
- Cao thay ông Hộ
- Tư chất tuyệt luân
- Chân ruổi cát dồn
- Học lấy huyền đạo".
Hộ, tuy có chữ Trúc như họ của
ông, thực sự là người sinh ở Đôn Hoàng, và cha mẹ gốc người Nguyệt
Chi. Như đã nói trên, ông mất lúc 78 tuổi khoảng năm 308 và đã quen thân
với Vu Đạo Thúy. Thúy cũng là người Đôn Hoàng giống Hộ. Vì vậy, mặc
dù Hộ không bao giờ xuống miền Nam Trung Quốc và nước ta, tiếng tăm và
dự nghiệp dịch thuật vĩ đại của ông chắc chắn đã được người
nước ta biết một cách khá tường tận qua những trung gian đắc lực như
Đạo Thúy.
Hơn thế nữa, như Huệ Hạo đã
ghi ở trên, thì Biệt truyện về Vu Pháp Lan cũng đã kể ra chuyện "cảm
cô tuyền nhi hồng lưu" cho Lan, dẫu có lẽ không chính đáng cho mấy,
bởi vì không những lời ngợi ca Lan của Chi Tuần chỉ nói đến chuyện
phủi tuyết cho cọp và không nói chi hết tới chuyện "cảm cô tuyền",
trong khi lời tán Hộ lại nói đến sự cảm ấy, mà còn vì Pháp Minh đã
xác định một cách rõ ràng là "Hộ công cảm cô tuyền nhi hồng lưu".
Như vậy theo tài liệu xưa nhất của Chi Tuần và Pháp Minh thì chuyện
"cảm suối khô" phải là của Hộ, và nó được người nước ta
biết đến chắc chắn phải qua trung gian Vu Đạo Thúy, mà họ đã đặt
nhiều tin tưởng, khi Thúy đến nước ta.
Chứng cứ thứ bảy là chuyện nằm
mộng thấy một nhà sư của Tống Vũ đế hỏi Huệ Nghiêm. Chuyện này ghi
lại trong bản tiểu sử của Huệ Nghiêm ở Cao Tăng truyện quyển 7 ĐTK
2059 tờ 367b18-368b7. Huệ Nghiêm mất vào năm Nguyên Gia thứ 20, tức năm
443, lúc ông 81 tuổi. Niên đại của ông do thế rơi vào khoảng 362 - 443. Năm
420, Lưu Dụ lật đổ vị vua cuối cùng của nhà Đông Tấn và lên ngôi lấy
hiệu là Tống Vũ đế. Dù có sự huyền khải của nhà sư về việc bố
thí một bát cơm cho Phật Di Vệ nên mới có được ngôi thiên tử, Tống
Vũ đế trị vì không quá hơn hai năm. Đến năm 423 thì Vinh Dương vương lên
thay để rồi năm sau bị Tống Văn đế lật đổ.
Cái chứng cớ cuối cùng này, về
phương diện lịch sử Phật giáo Việt Nam, không có gì đáng lôi cuốn sự
chú ý của chúng ta hết. Tuy nhiên, trên khía cạnh xác định niên đại có
thể của những bức thư cùng những tác giả của chúng ở đây, nó tỏ
ra có một giá trị vô cùng quí báu bởi vì ít nhất là với tính khởi sự
của nó, cho biết những lá thư ấy phải viết sau khoảng Lưu Dụ lên
ngôi, nghĩa là sau năm 420, nếu không là sau khi Huệ Nghiêm chết vào năm
433. Niên đại sớm nhất của chúng do đó phải là khoảng những năm
420-443. Về niên đại chậm nhất, chúng ta sẽ có dịp bàn tới dưới đây,
khi nói về lai lịch của những bức thư cũng như niên đại có thể của
những tác giả chúng.
Đấy là bảy chứng cớ do Pháp
Minh dẫn trong lá thư trả lời Lý Miễu. Chúng tôi đã dài dòng truy nhận
căn cước và bàn cãi giá trị của từng chứng cớ một với mục đích
trước hết là trả lời câu hỏi, phải chăng đoạn văn, mà chúng tôi gọi
là Hậu bút, là một thêm thắt của những người sau, đặc biệt là của
người Trung Quốc, và tiếp đến nhằm cho thấy, những chứng cứ ấy thuộc
về một truyền thống lịch sử và văn hóa khác với những chứng cớ của
Hậu bút.
Về mục đích đầu, câu trả lời
là một khẳng định. Hậu bút là một thêm thắt của những người sau. Nói
là khẳng định, bởi vì, như đã vạch ra, những chứng cớ cua Tôn Bính
là nhằm chứng minh Phật giáo đã được người Trung Quốc biết từ thời
Tam đại, tức thời những nhà Hạ, Thương và Chu, với quyển Sơn hải
kinh của Bá Ích, người con thứ hai của vua Thuấn. Những chứng cứ về
Phật Đồ Trừng và ông chú của Diêu Hưng do Bính dẫn ra là để chứng
minh rằng, thậm chí những người này sống vào thời Tấn cách Can Bảo
và Tôn Thạnh không bao nhiêu năm, mà cũng không bao giờ được họ nói tới
trong những cuốn sách họ viết như Tấn ký của Can Bảo hay Ngụy thế
xuân thu của Tôn Thạnh. Do thế, tuy Bá Ích đã biết đến nước "Thân
độc ở đó đạo Phù đồ đang nổi lên", nhưng Phật giáo đã không
được nói tới qua những đời nhà Hạ, Thương và Chu, ấy là lỗi
"nhỏ nhen thiếu sót của các học giả" sử gia, chứ đâu phải
"Phật giáo chỉ bắt đầu với Hán Minh đế".
Chứng minh như thế, những bằng cớ
của Tôn Bính đi ngược lại ngay cả một chứng cớ của Pháp Minh ấy là
chuyện Phật giáo đến Trung Quốc với giấc mộng Người Vàng của Hán
Minh đế. Từ đó tạo nên một mâu thuẫn nội tại trong chính ngay bức thư,
một điều không thể xảy ra được, nếu cứ vào sự sáng sủa mạch lạc
của sự hành văn cũng như cách lý luận, chúng ta phải loại đoạn Hậu bút
ra và coi nó không gì hơn là một thêm thắt của những người sau.
Những người sau này là ai? Chúng
tôi nghĩ, họ là người Trung Quốc, tại vì, nếu ta so sánh những bằng cớ
của đoạn Hậu bút với bảy chứng cớ của Pháp Minh, thì điểm nổi bật
nhất sau đây đã lộ ra. Đấy là, trong số bảy chứng cớ ấy, trừ chứng
cớ cuối cùng có tính chất thời sự về Tống Vũ đế, sáu chứng cớ
kia dưới dạng một hình này hay một dạng hình khác liên lạc với lịch
sử nước ta và Phật giáo nước ta. Từ thuyết "mộng kim nhân" của
Mâu Tử cho đến chuyện "cảm cô tuyền", của Trúc Pháp Hộ qua
Chu Trương, Quách Văn Cử, Vu Pháp Lan, Vu Đạo Thúy và Khương Tăng Hội, mỗi
một chứng cớ đã có những dấu tích đặc biệt đối với người Phật
tử Việt Nam. Trái với đặc tính này, những bằng cớ của Tôn Bính như
Phật Đồ Trừng và người chú của Diêu Hưng hầu như không có một liên
lạc nào hết. Do thế, khi người Trung Quốc đọc thấy những lá thư trao
đổi trên chắc phải thấy điểm nổi bật vừa nói và phải ngạc nhiên
là, chúng không nói gì hết đến những thần dị ngoài những thần dị
liên lạc với Giao Châu. Lúc đã nhận thấy điều đó, họ chắc không ngần
ngại cho trích một số văn cú từ Minh Phật luận của Tôn Bính và làm
thành đoạn Hậu bút và chỉ giữ lại sáu lá thư mà thôi.
Dĩ nhiên, kết luận này không có
gì mới mẻ cho lắm, bởi vì trước đây Nghiêm Khả Quân khi cho trích Sáu
lá thư trong Toàn Tống văn đã loại bỏ phần mà chúng tôi gọi là Hậu
bút trên. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn cho dịch và bàn cãi vì đoạn "Hậu
bút" ấy, một mặt chứng thực nguồn gốc Việt Nam của Sáu lá thư.
Mặt khác, vì "Hậu bút" là một trích dẫn từ Minh Phật luận do
Tôn Bính viết để trả lời lại Quân thiện luận, nó giúp ta kết nối sự
ra đời của Sáu lá thư với những vấn đề do Quân thiện luận đề ra.
Do thế, dù loại bỏ, chúng tôi vẫn cho dịch kèm theo với Sáu lá thư.
Về mục đích thứ hai, qua những
phân tích sáu chứng cớ của Pháp Minh ta thấy chúng vẽ nên không ít một
bức tranh khá linh động về lịch sử Phật giáo Việt Nam trước thế kỷ
thứ năm. Chúng ta có Mâu Tử vào thế kỷ thứ II, Khương Tăng Hội thế kỷ
thứ III và Vu Pháp Lan, Vu Đạo Thúy, Quách Văn Cử, Chu Trương và Cát Hồng
của thế kỷ thứ IV. Bức tranh ấy càng linh động hơn, khi chúng ta phân
tích hết toàn bộ Sáu lá thư với những dẫn chứng và điển cố của chúng.
Ngay lúc này, ta chỉ cần nhận xét
là, nếu đem những chứng cớ của Pháp Minh so sánh với những chứng cớ
của Tôn Bính trong Minh Phật luận cũng như của Tôn Xước trong Dụ hiền
luận, thì chúng ta phải giả thiết sự hiện diện của những truyền thống
văn hóa và lịch sử khác nhau giữa Pháp Minh và hai người ấy. Chính vì sự
khác nhau đây mà khi những lá thư ấy mang lên Trung Quốc, có lẽ qua những
trung gian như Huệ Thắng và Đạo Thiền vào cuối thế kỷ V, những người
Trung Quốc đã phải thêm vào đoạn Hậu bút, để gia thêm một sắc mầu
Trung Quốc cho cái bối cảnh Việt Nam của chúng.
Sự khác biệt truyền thống này,
không chỉ giới hạn vào lãnh vực tôn giáo. Nó còn lan ra nhiều lãnh vực
khác, mà quan trọng nhất là lãnh vực chính trị và độc lập chính trị.
Chẳng hạn trong đoạn kết luận lá thư thứ tư, Đạo Cao đã không ngần
ngại bảo người đệ tử Lý Miễu của mình là "đang ở vào địa vị
thiên tử" (cư đại bảo chi địa) Dĩ nhiên, người ta có thể hỏi, nếu
Lý Miễu "cư đại bảo chi địa" thi sao Đạo Cao lại cứ xưng Miễu
bằng "sứ quân", chứ không bằng những mỹ hiệu như "bệ hạ".v.v..
? Chữ "sứ quân" dùng để gọi những người ở vào địa vị thứ
sử hay chư hầu, kiểu hai câu nói sau đây do Tiêu Tử Hiến ghi lại trong
Nam Tề thư quyển 58 tờ 16a-9-b2, khi thứ sử Giao Châu Phòng Pháp Thừa xin
sách xem từ trường sứ Phục Đăng Chi: "Sứ quân ký bị tật, bất
nghi lao" và "sứ quân tỉnh xứ, do khủng động tật, khỉ khả khán
thư?" mà Đại Việt sử lược quyển 1 tờ 8b3 đổi thành "sứ
quân an cư, do khủng động tật, khỉ khả khán thư".
Vấn đề "sứ quân" và
"cư đại bảo chi địa" này, chúng tôi sẽ có dịp bàn rõ hơn dưới
đây. Ở đây ta chỉ cần vạch sơ ra như thế, để cho thấy rằng, sự khác
biệt truyền thống giữa những lá thư và các tác giả Trung Quốc là một
sự thực và là một điểm nổi bật cần chú ý. Nó sẽ hướng dẫn ta khá
nhiều trong việc nghiên cứu những lá thư ấy.
Nguồn gốc Việt Nam về mặt điển cố thư tịch [^]
Nếu những phân tích về bảy chứng
cớ của Pháp Minh đã điểm chỉ cho ta một cách lôi cuốn nguồn gốc Việt
Nam của những người viết thư, thì những phân tích tiếp theo về thư tịch
và điển cố do họ dẫn sẽ soi sáng không ít cái nguồn gốc ấy, nhất
là những loại thuộc Phật giáo.
Về những loại thư tịch điển cố
"Sương Dĩnh" và "Bào Sinh" trong câu "Bần đạo, khí
phi Sương Dĩnh, vận phi Bào Sinh" của đoạn mở đầu lá thư thứ sáu.
Sương Dĩnh và Bào Sinh là ai? Không một cuốn tự điển nào đã ghi lại.
Phải chăng chỉ là những từ chung? Chúng tôi ban đầu nghĩ vậy, nhất là
khi những bộ tự điển lớn tiếng Trung Quốc có từ ngữ "bào sương"
mà chúng cắt nghĩa như "đao nhà bếp" - bào đao, và cho dẫn hai
thí dụ chứng minh. Một từ bài ngụ ngôn của Hoàng Đình Kiên, theo đó:
- Bào sương đao lạc quải
- Chấp ngọc tử minh thuyền
- và một bài từ Đường luật của Chu Tùng:
- Áp tào ngọc diện thiên nhai kiến
- Trác tuyết bào sương chiếu nhãn minh
Chúng tôi ban đầu nghĩ "sương
dĩnh" và "bào sinh" có thể là một diễn ngữ "của bào sương".
Do thế câu "khí phi sương dĩnh, vận phi bào sinh" có thể cắt nghĩa
như "bần đạo không có tài năng sắc bén". Nhưng vì chưa thể tìm
ra một dụng ngữ nào thuộc loại sương dĩnh vào bào sinh, nên chúng tôi,
vì cẩn thận phải giả thiết chúng như hai điển cố cần khảo tra thêm.
Dĩ nhiên, người ta cũng có thể dịch theo chữ câu ấy thành "bần đạo,
tài năng không phải là bút sương, vận mệnh thì không phải là sinh vật
dùng cho nhà bếp", rồi để nguyên như vậy cho ai muốn hiểu sao thì
hiểu.
Ngoài ra, Tiền Hán thư quyển 39 tờ
2b9-12 cũng có nói tới Bào Sinh; dù chữ Bào ở đây viết bằng bộ
"ngư", như một cố vấn của Tiên Hà. Nó viết: "Vua nhiều lần
sai sứ đến vấn lao thừa tướng. Bào Sinh gọi Hà nói: "Nay vua áo chiều
sương phủ, đã nhiều lần đến vấn lao ông, ấy vì người có ý nghi ngờ
lòng ông. Kế cho ông bây giờ không gì hơn là ông hãy sai con cháu em út
ông, đứa nào giỏi về việc binh đều đến ở trong quận sở của vua thì
vua càng tin ông". Từ đó, Hà làm theo kế của Bào. Hán Vương rất vui
lòng". Bào Sinh của Tiên Hà này là ai? Câu hỏi này cho đến thời Nhan
Sư Cổ (581-645) thì đã hoàn toàn không thể trả lời được. Trong các
chú thích về chữ đấy, Cổ chỉ biết viết: "Sư Cổ nói: Bào Sinh
là một bậc hữu thức thời bấy giờ, họ Bào, là người học trò vậy".
Do thế, ngày nay dù ta có đồng nhất Bào Sinh ở đây với Bào Sinh trong những
lá thư của chúng ta, một điều rất có thể, chúng ta cũng không thể biết
gì thêm hơn về ý nghĩa câu "Vận phi Bào Sinh", ngoài cái suy đoán
rằng, Pháp Minh có thể ví mình không có cái may mắn kiểu của Bào Sinh
được phục vụ Tiêu Hà.
Dù với trường hợp nào đi nữa,
chúng tôi cũng không loại bỏ cái khả hữu Sương Dĩnh và Bào Sinh rất
có thể là tên của hai người nổi tiếng nước ta vào một thời gian nào
đấy trước khi những lá thư trên xuất hiện; vì họ là người nước
ta, nên đã không bao giờ được ghi lại trong sách vở Trung Quốc và trở
thành mai một với thời gian. Cho đến khi một trong những trường hợp
trước được xác nhận, khả hữu này đáng nên chú ý.
Về các thư tịch điển cố ngoài
Phật giáo có thể truy về sách vở Trung Quốc, gồm có bốn nhóm chính
sau: Nhóm thứ nhất là chữ "võng tượng huyền châu" trong câu
"chiếp khách ngu quản, võng tượng huyền châu", mà chúng tôi dịch
thành "thì xin đem hết ống ngu của mình để làm chuyện võng tượng
đi tìm huyền châu", ở đoạn mở đầu của lá thư thứ hai.
Bốn chữ này dĩ nhiên là một mượn
ý từ câu chuyện Hoàng đế sai Võng Tượng đi tìm huyền châu trong Nam hoa
kinh thiên Thiên địa XII tờ 29 của Trang Tử: "Hoàng đế du hồ Xích
thủy chi bắc, đăng hồ Côn lôn chi khưu, nhi nam vọng, hoàn qui, di kỳ huyền
châu, sử tri sách chi nhi bất đắc, sử ly châu sách chi nhi bất đắc, sử
kiết cấu sách chi nhi bất đắc dã; nãi sử tượng võng, tượng võng (bk.
Võng tượng) đắc chi. Hoàng đế viết: "Di tai, tượng võng nãi khả dĩ
đắc chi hồ". Câu chuyện đây, người ta thường cắt nghĩa và dịch
thành "Hoàng đế, trong khi đi chơi ở miền Bắc sông Hồng, đã lên đồi
Côn Lôn, mà ngó về miền Nam, rồi trở về, đến viên huyền châu lại.
Ông sai hiểu biết đi tìm, nó tìm không được. Sai cái có hình dáng đi tìm,
nó tìm không được. Sai ngôn từ đi tìm, nó tìm không được. Bèn sai cái
không dáng hình đi tìm, không dáng hình tìm được. Hoàng đế nói: "Lạ
thay, không hình dáng mà có thể tìm được huyền châu ư?".
Quách Tượng đời Tấn chẳng hạn
đã giải nghĩa chữ "ly châu" như "sắc hình". Hay Thành Huyền
Anh đời Đường đã chú thích chữ võng tượng thành "ly thanh sắc tư
lự", như Lý Thiện đã làm, khi ông bàn tới câu "bạc sách hiệp
đạp, võng tượng tương cầu" trong bài phú Động tiêu của Vương Bào
ở Văn Tuyển: "Thiện nói: Hư vô là võng tượng ấy vậy". Điều
đáng chú ý là, chữ võng tượng hay tượng võng ấy lại có dịp xuất hiện
ở thiên Đạt sinh, tức thiên XIX tờ 49, theo đó Hoàn công đi chơi gặp quỉ,
về quá sợ nên phát bệnh, bèn hỏi Cáo Ngao có quỉ hay không, Ngao trả lời
là có như "đầm có con Lý, bếp có con Kết, rác rưởi bên trong cửa
là chỗ ở của Lôi đình, phía dưới phương đông bắc con Bội a và con
Khúc long nhảy lượn, phía dưới phương tây bắc là chỗ của con Dật dương,
sông có con võng tượng, đồi có con Sân, đồng bằng có con Bàng hoàng,
núi có con Quỉ, vũng có con Rắn ủy".
Cố nhiên, việc kết nối Hoàn
công với võng tượng của Trang tử đây điểm chỉ cho ta không ít cái kết
nối giữa võng tượng, Khổng Tử và Hoàn công, mà Tư Mã Thiên đã ghi lại
trong Khổng Tử thế gia của Sử ký quyển 47 tờ 6a 6 - 10. Một hôm, Hoàn Tử
đào giếng gặp được một vật trông giống con dê trong một bình đất.
Để thử Khổng Tử, Hoàn bảo mình gặp được con chó. Khổng trả lời:
"Theo chỗ Khưu biết thì nó là con dê vậy, vì Khưu nghe rằng, quái vật
của núi là con quì và con võng lạng, quái vật của con sông là con ám và
con võng tượng, quái vật của đất là con dê chôn".
Võng tượng do thế tự nguyên uỷ
rất có thể không chỉ gì hơn là tên một con vật, ngay cả trong trường
hợp câu "võng tượng đi tìm huyền châu". Những chữ
"tri", "ly châu" và "kiết cấu", ở đoạn ấy của
Thiên địa cũng phải coi như tên những con vật, rất có thể là ngoại
lai, mà Trang Tử đã phiên âm ra tiếng Trung Quốc. Dù với trường hợp nào
đi nữa, điển cố "võng tượng huyền châu" của Đạo Cao nhằm nói
rằng, nếu Đạo Cao đem hết chỗ ngu của ông trình bày và người đọc nắm
được ý tưởng, thì điều ấy thật là không ngờ được, thật hy hữu
như chuyện con võng tượng đã tìm được huyền châu, mà người ta, ngay cả
Hoàng đế, đã không ngờ là nó có thể làm được.
Nhóm thứ hai gồm bốn chữ "thổ
ác dư hà" - nhả thức ăn, búi lấy tóc, mà vẫn còn rối - ở đoạn
cuối cùng của lá thư thứ tư. Điển "nhả miếng ăn, búi lấy
tóc" này, Đạo Cao phải lấy từ Chu công thế gia của Sử ký quyển
33 tờ 3a9-b2, theo đấy khi Chu công nghe Bá Cầm được phong đất Lỗ, ông
liền dặn Bá Cầm thế này: "Ta là con của Văn vương, em của Vũ
vương và chú của Thành vương; đối với thiên hạ, ta do thế cũng không
hèn hạ gì. Thế mà, ta một lần tắm thì ba lần búi tóc, một bữa ăn thì
ba lần nhả miếng, đứng dậy, để đợi kẻ sỹ, vậy mà ta còn sợ mất
kẻ hiền trong thiên hạ; con khi đến Lỗ, nên cẩn thận, đừng đem thế
nước ta ra mà kiêu ngạo với người".
Sự rút gọn điển này thành hai chữ
thổ ác ít nhất đã bắt đầu với Ban Cố trong tiểu sử của Tiêu Vọng
ở Tiền Hán thư quyển 78 tờ 1b5-9; khi Vọng trách Hoắc Quang là "khủng
phi Chu công tướng Thành vương cũng thổ ác chi lễ, trí bạch ốc chi
ý", và dùng trong Hậu Hán thư quyển 66 tờ 18b3-5 ở tiểu sử của Trần
Nguyên: "Cố nhân quân hoạn tại tự kiêu, bất hoạn kiêu thần, ưng tại
tự nhiệm, bất tại nhiệm chân, thị dĩ Văn vương hữu nhật ngô chi lao,
Chu công chấp thổ ác chi thuật".
Nhóm thứ ba là những dẫn chứng từ
kinh Dịch và Luận ngữ. Trong lá thư thứ năm, Lý Miễu cho dẫn câu
"Tích thiện dư khương, tích ác dư ương", và bảo là từ kinh Dịch.
Câu ấy quả đến từ phần văn ngôn của quẻ khôn, mà theo bản in Chu Dịch
của cụ Phan Bội Châu đọc như "Tích thiện chi gia tất hữu dư
khương, tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương, thần thí kỳ quân, tử
thí kỳ phụ, phi nhất triệu nhất tịch chi cố, kỳ sở do lai tiệm hỷ".
Trong lá thư thứ sáu, Pháp Minh nói
đến "sống chết có mạng, giài sang tại trời" và "quỉ thần
không thể cản ngăn, thánh nhân không thể tiên đoán". Câu "tử
sinh hữu mạng, phú quí tại thiên" đây đương nhiên là một trích dẫn
từ câu trả lời của Tử Hạ cho Tư Mã Ngưu Ưu ở thiên Nhan Uyên của Luận
ngữ, khi Ưu phàn nàn là "nhân giai hữu huynh đệ, ngã độc vong",
theo đấy "thương giai chi hỷ, sinh tử hữu mạng, phú quý tại thiên,
quân tử cẩu cập nhi vô thát, dự nhân hào nhi lễ, tứ hải chi nội giai
huynh đệ dã, quân tử hà hoạn hồ vô huynh đệ dã".
Còn câu "quỉ thần không thể
can ngăn, thánh nhân không thể tiên đoán" được Pháp Minh lấy từ
Chinh tây phú của Phan Nhạc (?-300), mà Văn tuyển quyển 10 tờ 1b10-2a3 đã
ghi: "Thử tam tài giả, thiên địa nhân, đạo duy sinh dự vị, vị chí
đại bảo, sinh hữu tu đoản chi mạng, vị hữu thông tác chi ngẫu, quỉ
thần mạc năng yêu, thánh trí mạc năng dự..".
Nhóm cuối cùng gồm những tên Cơ,
Khổng, Đán, Khưu, và từ "Thất kinh". Cơ Đán là tên của Chu
Công, còn Khổng Khưu là tên của Khổng Tử. Thất kinh là bảy bộ điển
tịch tiêu chuẩn của lịch sử Trung Quốc cổ đại, gồm bốn kinh thường
xuyên là Dịch, Thi, Thơ và Lễ, và ba kinh có thể thay đổi giữa Nhạc, Tả
truyện Xuân thu.
Luận ngữ, Mạnh tử, Hiếu kinh.
Đấy là sơ lược về những thư tịch
điển cố ngoài Phật giáo dùng trong Sáu lá thư. Về thư tịch điển cố
Phật giáo, một số chúng tôi đã phân tích ở trên. Số còn lại có thể
chia thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất gồm những tên họ sách vở do Đạo
Cao, Pháp Minh và Lý Miễu dẫn, và là nhóm quan trọng nhất. Hầu hết là
những tên Sí-đầu-mạt, Nhượng Khư và Long Hoa. Một củ soát những kinh
điển Phật giáo cho thấy những tên vừa nói đã xuất hiện trong các bản
văn liên quan tới sự ra đời của đức Phật Di Lặc trong tương lai.
Những bản văn ấy là
Maitreyàvadàna cùng năm bản dịch Hán văn của nó, đó là Phật thuyết Di
Lặc hạ sinh kinh do Trúc Pháp Hộ thực hiện vào năm 303, Phật thuyết Di Lặc
hạ sanh thành Phật kinh và Phật thuyết Di Lặc đại thành Phật kinh do Cưu
Ma La Thập dịch giữa những năm 402-412, kinh Di Lặc hạ sinh của Tăng nhất
A hàm kinh ĐTK 125 do Cồ Đàm Tăng Già Đề Bà dịch vào năm 397, và Phật
thuyết Di Lặc hạ sinh kinh ĐTK 457 do Nghĩa Tịnh dịch vào năm 703.
Trong số những bản dịch ấy, chúng
ta có thể loại bỏ bản của nghĩa Tịnh, bởi vì chúng không liên can gì
hết với những bức thư của ta. Nguyên bản Phạn văn, tuy không hoàn toàn
đồng nhất với những bản dịch Hán văn, có thể giúp ta nhận ra những
danh từ Phạn văn, mà người Trung Quốc đã cho phiên âm và đã xuất hiện
trong những lá thư. Bốn bản dịch còn lại, tất cả chúng đều dịch
trước năm 412 và hầu như hoàn toàn đồng nhất với nhau, mặc dù ngắn
dài hơi khác.
Thế thì, Đạo Cao có dùng những bản
văn dịch này không? Hay ông dùng một nguyên bản Phạn văn nào đó do người
Ấn Độ mang tới nước ta cho việc nói về thành Sí-đầu-mạt và vua Nhượng
Khư trên? Chúng tôi không thể trả lời câu hỏi sau được, vì không một
dữ kiện nào hiện còn cho phép ta giả thiết. Về câu hỏi trước, chúng
tôi nghĩ, chúng ta phải trả lời khẳng định, vì tối thiểu một bằng cớ
trong lá thư của Đạo Cao đã xác nhận như vậy.
Bằng cớ đó là chữ Sí-đầu-mạt.
Trong bản dịch của Trúc Pháp Hộ, cái thành mà Phật Di Lặc sẽ sinh vào,
được gọi là thành Kê Đầu. Bản dịch của Tăng Già Đề Bà ở quyển
thứ 44 của Tăng nhất a hàm kinh ĐTK 125 tờ 787c2-789c28 cũng gọi nó là
thành Kê Đầu. Hai bản dịch của La Thập, ngược lại, gọi nó là thành
Sí-đầu-mạt, cái tên đã xuất hiện trong lá thư của Đạo Cao. Vậy thì,
với bằng cớ này, chúng ta có thể giả thiết là Đạo Cao đã biết một
trong hai bản dịch của La Thập, đặc biệt là bản dịch đầu. La Thập,
dẫu thực hiện công tác dịch thuật ở miền Bắc, đã có những liên lạc
mật thiết với những người Phật giáo miền Nam, mà thí dụ điển hình
nhất là những trao đổi thư từ giữa ông và Huệ Viễn của Lô sơn, tạo
nên tập Đại thừa nghĩa chương sau này. Về phía nước ta, vào khoảng năm
425, Đàm Hoằng từ miền Bắc xuống ở tại chùa Tiên Sơn ở Bắc Ninh, nên
một số bản dịch của La Thập chắc hẳn đã tìm đường tới Việt Nam
không lâu sau khi chúng được dịch.
Sí-đầu-mạt với những biến thái
của nó như Kê Đầu, Kê-đầu-mạt, Kê Viên, Kê Lân.v.v.. cố nhiên vừa
là một phiên dịch vừa là một phiên âm Trung Quốc của chữ kurkutàràma
hay kukkutàràma tiếng Phạn. Kurkutàràma đã là tên của cái tu viện nổi
tiếng do vua A Dục dựng tại thành Pataliputra, mà Huyền Tráng, hơn tám trăm
năm sau khi Pusyamitra phá hủy trong cuộc đàn áp Phật giáo khoảng năm 187
tdl, vẫn còn nhận ra cái nền, như Đại Đường tây vức ký quyển 8 ĐTK
2087 tờ 912b14-17 ghi lại.
Điểm đáng ngạc nhiên, nguyên bản
Phạn văn chuyện thần thoại Maitreya, như nó đã xuất hiện ngày nay trong
bản in của Viện Phạn ngữ học Mithila, đã không có cái tên Xí-đầu-mạt
này. Cái tên Nhượng Khư, ngược lại, với những biến thái nhượng già,
hướng khư .v.v.. đã có mặt trong nó và không gì hơn là một phiên âm
Trung Quốc của chữ Sankha tiếng Phạn và Sankha tiếng Paris. Tất cả những
bản Hán văn đều đồng ý Nhượng Khư là vị vua ở thành Xí- đầu-mạt
và là người sẽ nhường ngôi cho Di Lặc nhằm thực hiện giấc mộng một
thế giới, ở đó mọi người đều sống lâu và giác ngộ qua ba hội thuyết
pháp dưới gốc cây Long Hoa.
Việc Đạo Cao đem vua Nhượng Khư,
thành Xí-đầu-mạt và ba hội Long Hoa để chứng minh tính có thể thấy
được của "Tây phương căn nguyên", phải kể là khá lôi cuốn cả
về phương diện tín ngưỡng lẫn cắt nghĩa. Về khía cạnh tín ngưỡng,
nó cho thấy những người thời âm đã có một tin tưởng sâu sắc vào sự
xuất hiện sắp đến của Phật Di Lặc. Về phương diện cắt nghĩa, nó vạch
ra sự hàm hồ không rõ ràng của câu hỏi do Lý Miễu nêu lên. Trong lá thư
thứ nhất Miễu nói: "Đây chính là lúc phải tìm nguồn gốc phương Tây
của giáo pháp". Ở lá thư trả lời, Đạo Cao chia câu đáp của mình
thành hai đoạn. Đoạn thứ nhất, ông dùng chứng cớ Phật Di Lặc. Do thế,
ta có thể giả thiết là nguồn gốc phương Tây của Miễu đây muốn nói
đến nguồn gốc Tây phương tịnh độ, nhưng người dịch bản tiếng Nhật
trong "Quốc dịch nhất thiết kinh" đã hiểu. Nhưng đến đoạn thứ
hai, Cao dẫn tới chuyện "Họ thích giống trống Pháp ở vườn Nai, đức
Phu Tử dương lời đức tại Châu lễ". Điều này có nghĩa nguồn gốc
phương Tây ấy không chỉ muốn nói Tây phương cực lạc mà còn muốn nói
đến nguồn gốc Ấn Độ của Phật giáo như một thực tại lịch sử,
như thực tại lịch sử của Tam hoàng Ngũ đế và Chu Khổng.
Tiếp đến là những dẫn chứng
và điển cố liên hệ với kinh Pháp Hoa. Trong lá thư thứ hai, Đạo Cao cho
dẫn câu "Thời ngã gặp chúng tâm, câu xuất linh thứu sơn" và bảo
là từ kinh Pháp Hoa. Khi củ soát những bản dịch hiện còn, đấy là
chính Pháp Hoa kinh của Túc Pháp Hộ, Diệu pháp Liên Hoa kinh của Cưu Ma La
Thập và Thiện phẩm diệu pháp Liên Hoa kinh của Xà Na Khuất Đa, chúng ta
đã gặp câu ấy trong bản của La Thập quyển 5 ĐTK 262 tờ 43b24 và của
Xà Na Khuất Đa quyển 5 ĐTK Q64 tờ 177c13 ở phẩm thứ 16 của bản trước
và 15 của bản sau, mà chúng đều gọi là "Như Lai thọ lượng phẩm".
Câu tương đương trong bản dịch của Trúc Pháp Hộ quyển 7 ĐTK 263 tờ
114c17-18 phẩm thứ 15 "Như Lai hiện thọ". Đọc như: "Nhiên hậu
Như Lai hiệp tập chúng âm, năng tự thị hiện, hiển đại Phật đại".
Nguyên bản Phạn văn hiện nay do
Woghihara và Tsuchida xuất bản trong Saddhadma-Pundadikà-Sùtram ở Đông Kinh năm
1934-1936 trang 276 đã chứng tỏ La Thập và Sà Na Khuất Đa dịch sát với
nguyên văn hơn; Câu trên theo Phạn văn là: Aham Sràvaka - Sangha Krtvà Àtmàna
darseny ahu Grdhrakaùte.
Vậy thì, trong bản dịch hiện
còn, Đạo Cao phải dẫn bản của La Thập và Xà Na Khuất Đa. Nhưng vì Xà
Na Khuất Đa thực hiện bản dịch của mình vào năm 601, bản của ông ta
do thế không thể là tài liệu cho việc dẫn chứng của Cao. Còn lại như
vậy là bản do La Thập dịch vào năm 406. Câu ấy La Thập xếp dưới phẩm
"Như Lai thọ lượng" như đã nói. Điều này giúp ta thấy cái tên
"Thọ Lượng vị tận" trong khúc "Nguyện tin lời của Thọ Lượng
vị tận" phải đến từ phẩm ấy. Và chúng ta không sai cho mấy, bởi
vì dẫu phẩm danh gọi là Như Lai thọ lượng, nội dung nó nói tới chuyện
Như Lai thọ lượng chưa hết. Chúng tôi nghĩ, cái tên Thọ Lượng vị tận
đây do đó đáng nên dịch ra Thọ Lượng chưa hết, và coi Đạo Cao muốn
đề cập tới phẩm Như Lai thọ lượng của bản dịch La Thập.
Dù có sự giống nhau về văn cú giữa
câu dẫn của Đạo Cao và bản dịch của La Thập, chúng ta có nên loại hẳn
cái khả hữu về việc Cao dùng một bản dịch khác không, nhất là khi ta
có cái tên Thọ Lượng vị tận không hoàn toàn đồng nhất với phẩm
danh của La Thập và vào thời Cao đang có những dịch phẩm khác lưu hành
như của Pháp Hộ và Chi Cương Lương? Chúng tôi nghĩ là nên, vì Đạo Cao
hình như có một đánh giá cao về dịch phẩm của La Thập và rất ưa dùng
chúng, mà điển hình là bản dịch Kinh Duy Ma Cật dưới đây hay chuyện thần
thoại Maitreya trên.
Ngoài cái tên "Thọ Lượng vị
tận" và câu "Thời nhả gặp chúng tâm cu xuất Linh Thứu sơn",
Cao cũng nói đến chuyện "Trung suy Đại Thống Trí Thắng chi tập".
Đại Thống Trí Thắng là tên một vị Phật trong kinh Pháp Hoa ở phẩm
"Hóa thạch" của bản dịch La Thập quyển 5 tờ 22a18-27b8 và bản
dịch của Xà Na Khuất Đa quyển 5 tờ 87b22-94b20. Cái tên "Vãng cổ"
của Hộ tỏ ra khá gần với phẩm danh Pùrva-Yoga của nguyên bản Phạn văn
kinh Pháp Hoa hiện nay do Wogihara và Tsuchida xuất bản trang 141-175.
Nội dung của phẩm này, như nhan đề
của nó điểm chỉ là nhằm cho thấy tính chất hóa thạch của mọi lý
thuyết Phật giáo và có thể tóm tắt thế này. Đại Thông Trí Thắng là
một vị vua, có 16 người con. Sau ông bỏ ngôi đi tu và thành Phật hiệu
là Đại Thông Trí Thắng. 16 người con dần dà được hóa độ và người
con thứ 15 sau naỳ trở thành Phật dưới tên Thích Ca Mâu Ni. Sự giác ngộ
của những người con này đều được thực hiện bằng những phương tiện
diễn giảng thí dụ của Đại Thông Trí Thắng. Dẫn truyện này ra, Đạo
Cao chắc muốn cho Lý Miễu hiểu một sự định kỳ của sự xuất hiện
những đức Phật và nhắc nhở Miễu về việc không nên đặt quá nặng
tin tưởng chuyện thị hiện và nhìn thấy.
Một lần nữa, với những dẫn chứng
ấy từ kinh Pháp Hoa, Đạo Cao đã cho thấy một phần nào tình trạng tín
ngưỡng nhiệt thành và sâu sắc về kinh Pháp Hoa của những người thời
ông, bởi vì để có thể chấp nhận giá trị bằng cớ của chúng, nó giả
thiết cả người đọc lẫn người viết, phải có một niềm tin nào đó
vào sự chân thật của cuốn kinh cùng những câu chuyện thần thoại nó kể.
Sự thật, ta có Huệ Thắng (440-510) đã "Tụng kinh Pháp Hoa ngày kể một
biến" như tục Cao tăng truyện quyển 16 ĐTK 2060 tờ 550c9 đã ghi. Hoằng
Pháp Hoa truyện quyển 5 ĐTK 2067 tờ 24c10-13 cũng chép lại chuyện một tín
sĩ của huyện Bình Lục thuộc Giao Châu đời Lương đã nhân tụng kinh
Pháp Hoa, hăm mộ sự tích Dược Vương. Sau khi thiêu mình, nơi thiêu bỗng
nổi gò cao, dáng giống hình người. Người cha đến Lào thì được tượng
vàng một pho lớn bằng người thật, ôm vào, trước muốn cất lên, bỗng
nhiên không thấy.
Cuối cùng là những dẫn chứng Tịnh
Danh và điển cố "Định Quang Nho Đồng". Trong lá thư thứ hai Đạo
Cao cho dẫn câu "Hiện giải pháp tứ, Tri chúng sanh căn" và bảo
là trích từ kinh Tịnh Danh. Một kiểm soát những bản dịch tiếng Trung Quốc
của cuốn kinh này cho thấy câu đó chỉ xuất hiện trong Duy Ma Cật sở viết
kinh ĐTK 475 tờ 537a14 phẩm "Phật quốc" do Cưu Ma La Thập dịch
năm 406, bởi vì bản Duy Ma Cật kinh do Chi Khiêm dịch khoảng năm 222-229 quyển
thượng phẩm "Phật quốc" ĐTK 474 tờ 519a 15 - 16 có "Tùy trung
vi hiện huệ đức, tại chư chúng vi chính đạo, còn bản Thuyết vô cấu
xứng kinh ĐTK 476 tờ 557c17-18 do Huyền Tráng dịch năm 650 đổi thành
"Thiện tri hữu tình chư căn thánh liệt, nhất thiết đại sở bất
năng phục". Cứ vào sự đồng nhất văn cú, chúng ta phải kết luận
là, Đạo Cao đã dẫn câu chứng của mình từ bản dịch của La Thập.
Tuy nhiên, vì Cao đã dẫn nó dưới
tên kinh Tịnh Danh, chúng ta cần phải kiểm thêm xem có bản dịch nào mang
cái tên ấy không? Dựa vào những thư tịch Phật giáo Trung Quốc từ Tăng
Hựu cho đến Viên Chiếu, cái thường biết như kinh Tịnh Danh được dịch
cả thảy 7 lần đấy là lần dịch năm 188 dưới tên Cổ Duy Ma Cật kinh của
Nghiêm Phật Điều, năm 291-296 dưới tên Di Duy Ma Cật kinh của Trúc Thúc
Lan, năm 280-300 dưới tên Duy Ma Cật kinh của Kỳ Đa Mật và năm 303 dưới
tên Duy Ma Cật kinh của Trúc Pháp Hộ, cộng thêm với ba bản dịch hiện
còn vừa kể. Bốn lần dịch này cùng với San Duy Ma Cật kinh của Trúc
Pháp Hộ và Hiệp Duy Ma Cật kinh của Chi Mẫn Độ ngày nay đã tán thất.
Dù còn hay mất, tất cả chúng không một bản nào đã mang cái tên Tịnh
Danh kinh. Chúng ta do thế phải kết luận cái tên ấy là một sáng tạo của
Đạo Cao.
Cố nhiên, đây là một điều
tương đối dễ hiểu, bởi vì nó không gì hơn là một dịch ngữ của
cái đầu đề Vimalakìrti-sùtra tiếng Phạn. Thế thì, cứ vào sự đồng
nhất văn cú, câu dẫn trên của Đạo Cao phải đến từ bản dịch của
La Thập. Khẳng định này về việc dùng bản dịch của La Thập của những
người viết Sáu lá thư còn có thể làm vững với một bằng cớ sau.
Trong lá thư thứ năm, để chứng
minh Phật giáo cũng chỉ nói đến duyên báo như Nho giáo, Lý Miễu cho dẫn
câu "vô ngã vô tạo vô thọ giả, thiện ác chi nghiệp diệc bất
vong" và bảo là "kinh nói", chứ không nói rõ "kinh
nói" ấy là kinh nào. Người dịch tiếng Nhật cuốn Hoằng minh tập là
ông Thái điền Thế Tạng trong Quốc dịch nhất thiết kinh hộ pháp bộ
quyển 1 tờ 260 cũng bảo, ông không biết "kinh nói" ấy là kinh
nào, và cho chú là "vị tường".
Điều đáng ngạc nhiên là, dịch
giả này đã thành công trong việc nhận ra câu "thiện giải pháp tướng",
tri chúng sanh căn" nói trên là xuất pháp từ phẩm Phật quốc của
kinh Tịnh Danh. Nói là ngạc nhiên, bởi vì nếu đã thành công trong việc
truy nhận câu ấy, thì làm sao ông Thái Điền lại có thể chú là "vị
tường" cho câu dẫn "vô ngã vô tạo vộ thọ giả, thiện ác chi
nghiệp diệc bất vong". Nếu đọc hết phẩm "Phật quốc" của
bản dịch La Thập hay Huyền Tráng, người ta không đợi lâu để gặp nó.
Nó nằm ở tờ 537c16 của bản La Thập và tờ 558c4 của bản Huyền Tráng.
Chỉ bản dịch của Chi Khiêm là dịch khác đi một chút là làm cho nó trở
thành khó hiểu như "phi ngã bất tạo dĩ bất tri, như Phật thanh tịnh
vô ác hạnh" ở tờ 519c19.
Vậy thì, trừ khi đọc bản dịch
của Chi Khiêm, ông Thái Điền mới có thể chú là "vị tường"
cho câu dẫn của Lý Miễu. Chứ nếu xem hoặc bản dịch của La Thập hoặc
bản của Huyền Tráng thì khó mà có thể không nhận được. Không những
thế, nếu đã nhận ra được câu "thiện giải pháp tướng, tri chúng
sanh căn", điều này tỏ ra rằng, ông Thái Điền đã dùng bản dịch của
La Thập, bởi vì như đã thấy, câu đó chỉ xuất hiện trong bản dịch đấy
mà thôi. Việc xuất hiện của cái chú thích "vị tường" của
ông Thái Điền do thế quả là đáng ngạc nhiên.
Dù với trường hợp nào đi nữa,
câu dẫn chứng của Lý Miễu, vì sự đồng nhất văn của của nó, phải
đến từ bản dịch của La Thập. Chúng ta không kể tới bản dịch của
Huyền Tráng, vì Tráng chỉ chép lại của La Thập và đã ra đời quá chậm.
Về điển "Định Quang Nho Đồng",
chúng không gì hơn là dịch ngữ của hai cái tên Phạn văn dipamkara và
mànava. Như những dịch ngữ độc lập, chúng đã xuất hiện khá sớm
trong nhiều bản dịch khác nhau, nhất là những bản dịch phát nguyên từ
nước ta và miền Nam Trung Quốc như Lục độ tập kinh của Khương Tăng Hội
chẳng hạn.
Song, như hai dịch ngữ kết nối với
nhau trong một trình tự kể chuyện, chúng chỉ xuất hiện một cách đáng
chú ý trong bản Phật thuyết thái tử thụy ứng bản khởi kinh ĐTK 185 tờ
472c1-483á9 do Chi Khiêm dịch vào khoảng những năm 222-229. Nội dung cuốn
kinh này có thể nói không gì hơn là một mô tả khá chi tiết và hoa mỹ
cuộc đời đức Phật từ sơ sinh cho đến nhập diệt, bắt đầu với một
câu chuyện nhập đề cuộc gặp gỡ giữa đức Phật Định Quang và vị
Sa-môn Nho Đồng. Câu chuyện này thực thi vị. Sa-môn Nho Đồng, vì muốn
cúng hoa cho đức Phật Định Quang, đã phải mua hoa từ cô hái hoa với một
giá rất đắt. Cô hái hoa ngạc nhiên, bèn hỏi lý do rồi cúng không lấy
tiền hai cành hoa với lời nguyện xin là, nàng và vị Sa-môn luôn luôn kết
nghĩa vợ chồng trong mọi kiếp sau. Phật Định Quang không ai khác hơn là
Phật Nhiên Đăng, và Sa-môn Nho Đồng không ai khác hơn là Phật Thích Ca với
cô hái hoa là công chúa Da Du Đà La.
Việc Đạo Cao cho dẫn điển cố
"Định Quang Nho Đồng" ở đây có cùng một mục đích như những
dẫn chứng về Nhượng Khư và Đại Thông Trí Thắng, đó là nhằm cho thấy
sự xuất hiện của đức Phật là một chắc chắn, dù năm tháng có xa
xôi tới đâu đi chăng nữa. Câu chuyện ấy ngày nay năm trong bản dịch
kinh Phật thuyết thái tử thụy ứng bản khởi của Chi Khiêm. Bản này là
bản dịch duy nhất tại Trung Quốc. Do thế, ta phải kết luận, Đạo Cao dùng
nó cho việc nói tới điển Định Quang Nho Đồng của ông.
Điều này càng rõ hơn với một
vay mượn sau trong lá thư thứ sáu của Pháp Minh. Trong đoạn thứ ba của lá
thư ấy, khi bàn về sự chìm nổi của chúng sinh, Minh đã nói tới chuyện
"nhất thân tử hoại, phục thọ nhất thân" - một thân chết đi,
lại nhận một thân khác - Nếu đọc qua bản dịch của Khiêm, ta thấy
Minh dẫn trực tiếp không thay đổi câu ấy từ tờ 472c5-6. Điểm này chứng
tỏ bản dịch của Khiêm đã được cả Minh và Đạo Cao, nếu không là
toàn thể những người học Phật thời họ, biết đến. Và sự tình ấy
không có gì là lạ cho lắm, bởi vì nó có thể nói là một cuốn sách
trình bày cuộc đời đức Phật với tất cả những đẹp đẽ và thi vị,
mà những Phật tử Ấn Độ trước thời Chi Khiêm đã có thể vận dụng
và thực hiện.
Rồi trong lá thư thứ tư, Đạo Cao
lại so sánh Phật giáo với "mặt trời mặt trăng" và các luồng tư
tưởng khác với ngọn lửa leo lét - Cửu lưu chỉ thị phi, nãi yêu hỏa
chi bất tức, phi nhật nguyệt chi bất huy - Hình ảnh này Cao rút ra từ
Mâu Tử lý hoặc luận trong Hoằng minh tập quyển 1 tờ 6b23: "Nhật
nguyệt phi bất minh, chúng ám tệ kỳ quang, Phật đạo phi bất chính,
chúng tư yếm kỳ công" - trời trăng không phải không sáng, bóng tối
nhiều che mất sáng, đạo Phật không phải không chính, ý riêng nhiều ám
mất ý công - Cũng trong lá thư ấy, Cao lại nói đến việc "người có
thấy đem nói với kẻ không thấy thì kẻ không thấy cuối cùng cũng không
tin sự thấy". Ý kiến này cũng đạo xuất từ câu: "sự thường
cộng kiến giả, khả thuyết dĩ thật, nhất nhân kiến nhất nhất nhân bất
kiến giả, nan dữ thành ngôn dã" - Việc thường cùng thấy thì có thể
nói cho là thật, một người thấy một người không thấy thì khó mà nói
với nhau - trong Mâu Tử lý hoặc luận quyển 1 tờ 4b18-19.
Trên đây là những thư tịch điển
cố của nhóm thứ nhất. Nhóm thứ hai gồm những kẻ khai danh số, mà phần
lớn đã xảy ra trong lá thư thứ sáu của Pháp Minh. Ở đoạn thứ ba của
nó, Minh nói tới ba cõi, sáu trần, ba ác, tám nạn và chín mươi sáu thứ
ngoại đạo.
Ba cõi hay tam hữu là ba thứ thế
giới, đấy là thứ thế giới xây dựng trên cơ sở tình yêu (dục giới),
thứ thế giới trên cơ sở hình tướng và thứ thế giới trên cơ sở phi
hình tướng.
Sáu trần hay lục trần là sáu thứ
đối tượng của sáu giác quan, đấy là đối tượng của thị giác, của
thính giác, của khứu giác, của vị giác, của xúc giác và của não giác.
Ba ác hay tam ác là ba con đường sống
khổ sở, đấy là con đường sống địa ngục, con đường sống quỉ đói
và con đường sống súc vật.
Tám nạn tức tám khó khăn ngăn cản
sự tiến triển trên đường về giác ngộ, đấy là sinh vào địa ngục,
vào quỉ đói, vào thú vật, vào cõi trời sống lâu, vào nơi biên địa hạ
tiện, vào tình trạng đui mù câm điếc, vào những kiến giải sai lầm và
vào thời trước hay sau Phật.
Chín mươi sáu thứ ngoại đạo tức
96 thứ học thuyết sai lầm vào thời đức Phật, mà người ta thường cắt
nghĩa như gồm 90 trường phái do 6 vị thành lập sáu học phái của triết
học Ấn Độ chủ trương, theo đấy mỗi một vị có 15 thứ lý thuyết
khác nhau (15x6: 90) cộng thêm với 6 học phái do 6 người đệ tử của 6 vị
ấy xướng xuất: (15x6)+6=96. Tuy một số kinh điển Phật giáo khác lại chỉ
nói có 95 thứ, và thứ học thuyết 96 chính không ai khác hơn là Phật
giáo, những bộ sách như Phân biệt công đức luận quyển 2 ĐTK 1507 tờ
34c 22-23 hay Tăng nhất A hàm kinh quyển 20 ĐTK 125 tờ 651c29 khẳng định là
96 thứ, không kể Phậg giáo.
Con số 96 thứ ngoại đạo ấy
cũng xuất hiện trong Đại trí độ luận do La Thập dịch năm 406 quyển 22
ĐTK 1509 tờ 228b25, quyển 27 tờ 261a 15-16, quyển 34 tờ 309b, quyển 36 tờ
325c11, quyển 40 tờ 349b22, quyển 49 tờ 412b5, quyển 74 tờ 581b18, v.v.. Và
tác giả những lá thư của ta chắc hẳn đã biết tới bản dịch đó và
đã dẫn số 96 thứ ngoại đạo từ nó, cứ vào việc họ thường dẫn
văn cú từ những bản dịch của La Thập nói trên. Nhưng điều đáng chú
ý là Mâu Tử lý hoặc luận trong Hoằng minh tập 1 tờ 6a 8-15 đã hai lần
nhắc đến con số 96 ấy, và theo nó 96 thứ "đạo" này không thứ
nào "chí tôn chí đại", không thứ nào "đạm bạc vô vị"
bằng đạo Phật. Do đó, việc nói tới 96 thứ ngoại đạo trong lá thư Pháp
Minh có thể đã rút ra từ Mâu Tử lý hoặc luậnl hay từ truyền thống học
tập Phật giáo danh số tại Việt Nam.
Cố nhiên, việc kể đến những
danh số loại này không có gì lôi cuốn lắm. Điểm lôi cuốn nằm ở chỗ,
nó cho thấy những người viết thư đã bằng lòng chịu khó đi sâu tới mức
nào vào việc học tập và nghiên cứu lý thuyết Phật giáo, nhất là Phật
giáo danh số. Thứ Phật giáo ấy không những vừa khô khan vừa kỹ thuật
và đôi khi vừa phi lý và phiền nhiễu, mà còn đòi hỏi những người học
tập một thời gian hơi dài cho trí nhớ ghi lại những phạm trù và danh số
của nó. Pháp Minh, Đạo Cao chắc có đủ thời gian và chịu khó. Điều đáng
nói là, hình như Lý Miễu cũng có đủ chúng, để có thể hiểu được lá
thư một cách hoàn toàn. Và nó cho thấy một phần nào tình trạng giáo dục
Phật giáo nước ta vào thời những vị này đã phát triển đến một trình
độ tương đối cao.
Với những phân tích thư tịch điển
cố và danh số Phật giáo này, một nét nổi bật đáng được nêu lên, đấy
là trong thời kỳ Nam Bắc phân tranh của Trung Quốc, nước ta hình như đã
có một liên lạc hầu như thường xuyên với miền Bắc, mặc dù tình
hình chính trị đã đôi lần hệ lụy quyền hành chính trị của người
nước ta với miền Nam. Bằng cớ cho khẳng định này dĩ nhiên là việc Đạo
Cao và Lý Miễu cũng như Pháp Minh đã dẫn những văn cú phần lớn từ những
bản dịch của La Thập, như đã thấy. Hệ luận tất nhiên là, vào khoảng
thế kỷ thứ IV - V quyền hành chính trị nước ta đã đạt đến một mức
độ tự trị khá cao, cuối cùng dẫn đến sự xưng đế của Lý Bôn vào
năm 544.
Sau thất bại của cuộc khởi
nghĩa do Lữ Hưng lãnh đạo vào năm 280, Đào Hoàng đã phải viết trong
cái báo cáo cùng năm về người nước ta như "thử châu chi nhân, thức
nghĩa giả quả, yếm kỳ an lạc, hảo vi họa loạn" - người châu
này, biết nghĩa thì ít, chán ghét yên sướng, ưa làm họa loạn. Và tổ
tiên ta không đợi lâu để làm thực lời báo cáo này. Đến cháu của
Hoàng thì quyền hành đã hoàn toàn thuộc nhà khởi nghĩa Lương Thạc, tuy
Thạc không bao giờ giữ chức thứ sử. Năm 322 Tấn Nguyên đế cử Vương
Lượng sang làm thứ sử, Thạc không ưa, nên giết Lượng. Năm sau, Cao Bảo
tiến quân đánh Thạc.
Từ năm 323 cho đến khi Lý Tốn chống
lại sự đáo nhiệm của Bằng Độn Chi vào năm 380, sử Trung Quốc không
ghi rõ tên những người được mệnh danh làm thứ sử Giao Châu. Các cuốn
sử ta như cuốn Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông
giám cương mục thì chỉ ghi có hai người, đấy là Nguyễn Phóng và Nguyễn
Phu. Song, Đại Việt sử lược quyển 1 tờ 6b11 liệt thêm một người thứ
ba, đấy là Chu Phụ, và chú là "làm thứ sử thời Tần Phù
Kiên". Tần Phù Kiên lập nên nhà Diêu Tần ở miền Bắc và trị vì
giữa những năm 357-386.
Chu Phụ là ai? không một cuốn sử
nào, trừ chi tiết vừa kể của Đại Việt sử lược đã nói đến. Tấn
thư quyển 97 tờ 9a 7-10a 9 có ghi lại tên một Chu Phiên, theo đấy
"Vĩnh Hòa năm thứ ba Văn đem bè lũ hắn hãm Nhật Nam, hại thái thú Hạ
Hầu Lãm, giết năm sáu ngàn người, số còn lại chạy trốn đến Cửu Chân;
Văn lấy thây Lãm đến tế trời, cắt bình huyện Tây Quyện, rồi chiếm
Nhật Nam, nói với thứ sử Giao Châu là Chu Phiên xin lấy Hoành Sơn phiá Bắc
Nhật Nam làm biên giới". Vĩnh Hoà thứ 3 tức năm 348 Chu Phiên, cứ
vào niên đại này, tất không thể là Chu Phụ được, bởi vì Phụ làm thứ
sử đời Tần Phù Kiên, tức giữa những năm 357-386, và sau năm 348 ta có Dương
Bình giữ chức ấy vào năm 352, Nguyễn Phu vào năm 355 và Nguyễn Phóng hay
theo Tấn thư Ôn Phóng Chi vào năm 359.
Điều chắc chắn là Tần Phù Kiên
quả đã mở rộng ảnh hưởng quyền hành của ông xuống cho tới Ích
Châu, khi ông cử Đặng Khương xuống dẹp loạn bọn "mọi Ba Thục",
mà Thập lục quốc xuân thu quyển 36 tờ 962-4 đã ghi lại như "ba di hiểm
nghịch, khấu loạn Ích Châu, chiêu dân Ngô quân vi thần xử xỉ chi thế,
đặc tiến chấn Nam quân tướng quân lệ phong hiệu úy Đặng Khương khả
soái giáp sĩ ngũ vạn, tinh dạ phó thảo", cứ theo trích dẫn của
Nghiêm Khả Quân trong Toàn Tấn văn quyển 151 tờ 4a 10-11.
Một trích dẫn ở tờ 2b7-9 liên
quan đến việc thăng chức cho Khương viết: "Khương hữu liêm lý chi
tài, trẫm phương dĩ chi phạt chi sự, bắc bình Hung nô, nam đảng Dương
Việt, Khương chi nhiệm dã", xác nhận như vậy nỗ lực thấm nhập vào
miền Nam của Tân Phù Kiên đặc biệt là miền Dương Việt.
Chu Phụ hẳn đã thiết lập những
liên lạc ngoại giao với Kiên có lẽ vào sau khoảng năm 360 qua những cuộc
hành quân vừa kể của Khương. Chúng ta không biết Phụ giữ chức thứ sử
bao lâu, nhưng chắc phải chết trước năm 380, khi nhà Tấn cử Đằng Độn
Chi qua làm thứ sử và Lý Tốn đã cắt binh chống lại. Năm sau, thái thú
Giao Chỉ Đỗ Viện giết Tốn và đón Chi tới. Hai người con của lãnh tụ
Tốn là Lý Dịch và Lý Thoát trốn vào núi tiếp tục kháng chiến, cho đến
năm 412 khi họ liên lạc được với Lư Tuần ở Hợp Phố và tiến đánh
Đỗ Huệ Đ