- Lịch sử Phật giáo Việt
Nam
- Từ khởi nguyên đến thời
Lý Nam Đế
- Tiến sĩ Lê Mạnh Thát
- Chương VIII-B
- Sáu lá thư và cuộc khủng
hoảng
- của nền Phật gia'o thế kỷ
thứ V
Huệ Lâm và lý do ra đời
của 6 lá thư
Niên đại của Đạo Cao, Pháp Minh và Lý Miễu
Về Hiền Pháp sư
Nội dung cuộc khủng hoảng
Những đóng góp của Sáu lá thư
Về nghệ thuật
Về âm nhạc
Về văn học
Về lịch sử Phật giáo
Về lịch sử chính trị
Huệ Lâm và lý do ra đời của sáu lá thư [^]
Về câu hỏi sau, để trả lời, chúng
ta cần nhớ đến nghệ thuật Tiên Sơn. Chúng tôi gọi nghệ thuật Tiên Sơn
những gì tìm thấy trên bệ đá chùa Vạn Phúc, mà trước đây chúng tôi
đã đặt tên là nền nghệ thuật Vạn Phúc một cách không chính đáng cho
lắm. Đặc điểm của nền nghệ thuật này nằm ở chỗ, đức Phật không
bao giờ được tượng trưng bằng hình người, mà bằng một cánh hoa sen
đặt vào giữa lòng một trang trí theo dáng hình lá bồ đề. Quan niệm đức
Phật của người nước ta vào thế kỷ thứ V như vậy biểu lộ không ít
qua nền nghệ thuật ấy. Và cố nhiên là có thể truy tối thiểu về cái
thuyết "thanh nhân năng thụ nhân đạo, bất năng sử nhân lý nhi hành
chi giả" của Mâu Tử vào thế kỷ thứ II trong Mâu Tử lý hoặc Luận,
theo đó, giá trị của Phật giáo không nằm đâu xa hơn là chính lý thuyết
Phật giáo và sự thực hành nó.
Điểm này giải thích cho ta khá nhiều
những băn khoăn về chuyện không thấy bản thân đức Phật của những Phật
tử thời bấy giờ như Lý Miễu, tạo cơ hội cho sự ra đời Sáu lá thư
của chúng ta.
Đương nhiên, sự mong ước nhìn thấy
bản thân đức Phật ấy không chỉ giới hạn vào, hay hậu quả của, quan
niệm Đức Phất phát biểu trong nền nghệ thuật Tiên Sơn tại nước ta.
Nó cũng xuất hiện ở Trung Quốc với trường phái Tịnh Độ của Huệ Viễn
tại Lô Sơn, mà bằng chứng còn sót lại trong những lá thư do ông và Cưu
Ma La Thếp viết, lưu truyền dưới tên Đại thừa nghiã chương. Những
băn khoăn này đã không những được họ phát biểu một cách hùng hồn
và kỳ diệu bằng nghệ thuật, mà còn bằng văn tự và lý luận một
cách minh nhiên và khúc chiết. Nghệ thuất là tiếng nói của con tim và niềm
tin; văn tự là tiếng nói của trí óc và hiểu biết. Tuy thế, niềm băn
khoăn ấy chưa hẳn là động cơ duy nhất cho sự xuất hiện những lá thư
trên. Nói là chưa hẵn, bởi vì trong những lá thư của Đạo cao và Pháp
Minh ta thấy họ đề cập đến nhiều vấn đề, mà Lý Miễu không bao giờ
nêu ra hay nhắm tới.
Chẳng hạn, ở lá thư thứ tư Đạo
Cao nói về sự "hấp tấp trong việc đồng qui"; hay ở lá thư thứ
sáu, Pháp MInh khiển trách những kẻ "tuy thế trí biện thông, sách vở
đầy bụng, trăm nhà thấu suốt, chín phái rõ qua, biết sống chết có mạng,
giàu sang tại trời, quỉ thần không dể cản ngăn, thánh hiền không thể
dự đoán, cũng không thoát khỏi sự sai lầm để che lấp tâm tình hay sự
nghi ngờ từa tựa để lo nghĩ mômg lung, rồi phó thác cho đồng bóng, đầu
thành với phù chú , ôm lấy chuyện bậy để hy vọng điều phải, giữ chặt
việc giả để chờ đợi sự chân, chần chờ hai lòng, trù trừ đôi
ngã". Những vấn đề cũng như sư khiển trách loại ấy chỉ có thể
hiểu được, nếu ta giả thiết, chúng không chỉ nhằm tới cá nhân Lý Miễu
của chúng ta, mà còn tới một số người khác. Thế thì những người khác
này là ai ?
Kiểm soát văn cú và vấn đề
trong Sáu lá thư trên. ta thấy chúng có những tương tự đáng chú ý với
Quân thiện luận của Thích Huệ Lâm do Trầm Ước (441 - 513) ghi lại trong
Tống thư quyển 97 tờ 14b7-19b8 và Nghiêm Khả Quân trích trong Toàn Tống văn
quyển 63 tờ 5b6-8a3. Cho nên không phải là hoàn toàn không lý do, khi ta có
thêm đoạn "hậu bút" trích từ Minh Phật luận của Tôn Bính sau
lá thư của Pháp Minh.
Quân thiện luận hay Quân thánh luận
là một tác phẩm nhằm chính minh thuyết thần diệt và thuyết Phật giáo
và Khổng giáo đều hay, giã trang dưới hình thức một cuộc đối thoại
giữa một Bạch học tiên sinh và một Hắc y đạo sĩ. Hắc y đạo sĩ dĩ
nhiên là một tên gọi khác những nhà tu hành Phật giáo. Thí dụ trong Đoạn
tửu nhục văn ở Quảng hoằng minh tập quyển 26 ĐTK 2103 tờ 29b18-19,
Lương Vũ Đế nói: "Phù khuôn chính Phật pháp thị hắc y nhân sự,
nãi phi đệ tử bạch y sở cấp".
Cuốn luận đó kết luận với sự
thua lý của Hắc y đaọ sĩ và lời đoán án thắng trận sau đây của Bạch
học tiên sinh: "U minh chi lý. cố bắc cực ư nhân sự; Chu Khổng nghi
nhi bất biện, Thích Ca biện nhi bất thật, tương nghi phế kỳ hiển hối
chi tích, tồn kỳ sở yếu chi chỉ ..., đản tri lục đọ dự ngũ giáo tịnh
hành, tín thuận dự từ bi tề lập nhĩ, thù đồ đồng qui giả, bất đắc
thu kỳ phát luân chi triệt dã".
Đoán án này do một nhà sư Phật
giáo viết ra tất phải tạo nên những tức giận trong hàng ngũ Phật giáo,
nhất là cái câu"Thích Ca biện nhi bất thật". Trầm Ước sau khi
cho chép lại hết cả Quân thiện luận, đã phải viết: "Luận hành ư
thế, cựu tăng vị kỳ biếm truất Thích thị, dục gia tẩn xích".
Và bằng cớ chúng ta không cần phải
đợi lâu, bởi khi cách Ước không xa, Huệ Hạo trong Cao Tăng truyện 7 tờ
368a11-12 viết về Lâm thế này: "Sau lại làm ra quyển Bạch hắc luận,
trái với lý thuyết Phật giáo, thái thú Hoặch dương Hà Thừa Thiên cùng
Lâm đọ giáp, giúp nhau kích dương, làm ra quyển Đạt tính luận, cũng câu
trệ về một phía, mà mắng chê Phật giáo ..., Lâm khi đã tự phá hủy
pháp bị của mình, bị đuổi ra Giao Châu".
Thế là, như một nhà sư Phật giáo,
Lâm đã phê bình Phật giáo một cách gắt gao, tạo nên những tức giận
trong hàng ngũ Phật giáo, đến nổi họ phải gọi một cách khinh thường
Quân thiện luận là Bạch hắc luận, để cuối cùng bị đuổi ra nước
ta, mặc dù một số Phật tử đồng thời như Trầm Ước và những nhà sư
Phật giáo về sau như Đạo Tuyên (596 - 667) đã tha thứ cho Lâm, điển hình
qua cái dẫn chứng trên của Ước và cái tóm tắt tiểu sử và đầy tư
tưởng thiện cảm về Lâm trong Quảng hoằng minh tập quyển 9 tờ
132b29-c4.
Trong lời đoán án vừa thấy , Lâm
đã nói tới chuyện "hiển hối chi tích" và "thù đồ dồng
qui". Về "thù đồ đồng qui", chúng ta đã nhận ra trong lời
phê bình của Đạo Cao về sự "hấp tấp trong việc đồng qui". Còn
chyện "hiển hối chi tích", thì tuy Lâm đòi hãy bỏ nó đi, Đạo
Cao đã mở đầu lá thư đầu tiên của mình với chính những chữ ấy:
"Phụng thùy vấn chí thánh hiển hối chi tích".
Những lá thư của Đạo Cao do thế
có thể nói không phải chỉ trả lời cho những vấn nạn của Lý Miễu,
mà còn là một trả lời cho cái kết luận trên của Quân thiện luận của
Huệ Lâm. Những lời khiển trách trong lá thư của Pháp Minh về chuyện
"thế trí biện thông, sách vở đầy bụng, trăm nhà thấu suốt, chín
phái rõ qua, do thế phải kể là nhắm tới Huệ Lâm nhiều hơn là Lý Miễu,
mà sư non nớt đã được chính Minh vạch ra trong cái mâu thuẫn về lý
thuyết của Nho giáo.
Mà quả thực, những lá thư của Lý
Miễu đã vang dội một phần nào ngôn từ và quan điểm của không những
Quân thiện luận, mà còn của những lá thư trao đổi của Hà Thừa Thiên
và Tôn Bính. Chẳng hạn trong lá thư thứ ba, Lý Miễu nói tới việc "Đấng
đại thánh ban cái trí vô ngại, duỗi lòng thương không cầu, thì sao lại
tiếc cái ánh sang rực rỡ của mình ..." . Trong lá thư viết trả lời
Tôn Bính ở Hoằng minh tập quyển 2 DTK 2101 tờ 19b27-28, Hà Thừa Thiên viết:
"Há Thích Ca chỉ không tiếc những lời giảng dạy dài dòng vào mươi
trăm vạn lời, mà lại đi tiếc một chút ánh thần trong giây lát ..."
Vậy thì Huệ Lâm bị đuổi ra nước
ta lúc nào ở đâu ?
Trả lời câu hỏi ấy, ngày nay
chúng ta không có một mẫu tin nào chắc chắn hết. Ngay cả việc Lâm bị
đuổi ra nước ta cũng đã không được ba trong số năm bản tiểu sử về
Lâm nói tới, đấy là Tống thư của Trầm Ước và Quảng hoằng minh tập
của Đạo Tuyên và Nam sử quyển 78 tờ 17a9-18al của Lý Diên Thọ. Cao Tăng
truyện ghi lại nó, nhưng không cho biết nó xảy ra năm nào. Thích môn tự
cảnh lục quyển thượng DTK 2038 tờ 809b29-c8 cũng thế, dâu có thêm là,
Lâm bị mù mắt vài năm rồi buồn chết.
Chúng ta do đó phải dựa vào một
số những bằng cớ trường hợp sau cho việc phỏng đoán thời điểm Lâm
đến nước ta. Thứ nhất, Huệ Lâm viết lụy văn cho hai người chết vào
năm 435, đấy là Trúc Đạo Sinh và Thích Pháp Cương, mà nguyên bản Đạo
Tuyên sưu tập lại trong Quảng hoằng minh tập quyển 23 tờ 265b3-c12 và
Nghiêm Khá Quân trích trong Toàn Tống văn quyển 63 tờ 8a4-10a10. Lâm như vậy
cho đến năm 435 đang còn ở Trung Quốc và đang có những liên lạc mật
thiết với hàng ngũ Phật giáo.
Nói thế, chúng tôi không kể đến
lụy văn do một người mang tên Thích Huệ Lâm, mà các ấn bản Trung Quốc
khắc thành hoặc như hoặc như viết cho Thích Huyền Vận mất vào năm 498
và xuất hiện trong Quảng hoằng minh tập quyển 23 tờ 268a25-c11, bởi vì
nó không quan trọng cho lắm với vấn đề của chúng ta ở đây. Nghiêm Khả
Quân trong khi cho trích nó ở Toàn Tề văn quyển 26 tờ 24a4-25a12, đã chú
thích Huệ lâm ấy như "vị tướng". Đạo Tuyên đã xác định Lâm
ấy là Lâm của thời Nam Tề, ngoài chuyện viết nó thành ? cứ theo ấn bản
Đại tạng kinh ngày nay. Chúng tôi nghĩ, chúng ta có thể giả thiết sự
có mặt của hai người cùng tên Thích Huệ Lâm.
Thứ hai, Lâm phải viết cuốn Quân
thiện luận của mình vào trước năm 434, bởi vì nó là chủ đề bàn cãi
của Minh Phật luận hay cũng gọi là Thần bất diệt luận , do Tôn Bính viết.
Bính mất năm 443 lúc ông 69 tuổi. Việc này, Hà Thượng Chí nói rõ trong
lá thư ông viết cho Tống Văn Đế vào năm 435, mà Tăng Hựu sưu tập dưới
nhan đề Hà lệnh Thượng Chi đáp Tống Văn hoàng đế tán dương Phật sự
ở Xuất tam tạng ký tập quyển 11 DTK 2102 tờ 69a13-14, như "Lúc bấy
giờ có Sa - môn Huệ Lâm giả mặc áo thầy tu, mà hủy báng giáo pháp của
mình, làm ra quyển Bạch hắc luận; thái thú Hoạnh dương Hà Thừa Thiên
cùng Lâm đọ giáp, giúp nhau kích dương, làm quyển Đạt tính luận, cũng
câu nệ một phía mà mắng chê Phật giáo; thái thú Vĩnh gia Nhan Diên Chi
và thái tử Trung xá nhân Tôn Bính đều là những người tin tưởng giáo
pháp, kiểm soát và bác bỏ hai cuốn luận ấy, mỗi một người hơn một
vạn lời; Lâm v.v... ban đầu cũng có thư từ qua lại, nhưng sau vì hết
lý, bèn thôi, Bính nhân đó làm quyển Minh Phật luận, để mở rộng tôn
chỉ của mình; vua khen hay".
Thứ ba, cứ vào lời dẫn của Hà
Thượng Chi, thì Huệ Lâm đã bị coi là "giả phục tăng thứ nhi hủy
kỳ pháp", ngay trong lúc Tống Văn đế đang còn sống, nghiã là bị coi
giả mặc áo thầy tu ngay trước năm 454, năm Văn đế chết. Đây là một
điểm chú ý, bởi vì theo Tống thư của Thẩm Ước thì chính trong thời Tống
văn đế này, mà cuốn Quân thiện luận của Lâm "ban hành ở đời, các
cựu tăng cho nó là chê bỏ Thích thị, muốn đòi tẩn xuất đuổi đi; Thái
tổ thấy cuốn luận, bèn khen; trong khoảng Nguên gia, Lâm tham gia chính quyền,
moị việc lớn ở triều đình đều cùng nghị bàn, khách khứa lui tới đông
đúc, xe cộ trước cửa thường có vài chục cặp, bốn phương nối nhau gởi
tặng của cải, thế khuynh một thời.
Nguyên gia, mà bản in Bách nạp viết
thành Nguyên trực, là niên hiệu suốt qua giai đoạn ngự trị từ năm 424
của Thái tổ, và Thái tổ là miếu hiệu của Tống Văn đế. Trong khoảng
những năm 424 - 454 Lâm như vậy đã đóng một vai trò quan trọng giữa triều
đình của Tống Văn đế. Nhưng đồng thời cũng tại khoảng đó Hà Thượng
Chi đã viết những dòng trên. Việc "Thái tổ thấy cuốn luận bèn
khen" đây chắc hẳn phải xảy ra trước khi Nhan Diên Chi và Tôn Bính
bác bỏ vào khoảng trước năm 435 không lâu. Một khi đã thế, Huệ Lâm
có bị đuổi ra Giao Châu chăng nữa thì cũng phải xảy ra sau khi Văn đế
chết, tức sau năm 454. Cứ vào ba bằng cớ trường hợp vừa dẫn, chúng
ta có thể giả thiết Huệ Lâm đã đến nước ta vào khoảng sau năm 454.
Từ đó, năm sinh của ông có lẽ rơi
vào khoảng 380. Đặt vào khoảng ấy, bởi Lâm viết lụy văn cho Pháp Cương
vào năm 435 với tư cách một người bạn, mà Pháp Cương vào năm 388 đã
là một pháp sư nổi tiếng tại giảng trường của Vương Tuân. Cương do
thế phải sinh khoảng 360. tuổi Lâm vì vậy cũng phải không cách Cương quá
xa, nghiã là, Lâm sinh khoảng năm 380, nếu không là sớm hơn. Ngoài ra, LÂm
vào năm 423 đã tham dự vào những tranh luận đương thời với Pháp Cương
và Tạ Linh Vận, mà thư từ qua lại giữa họ đã được Đạo Tuyên sưu
tập trong Quảng hoằng minh tập quyển 8 tờ 226b6-227a25, đặc biệt là khi
Vân gọi Lâm bằng Lâm công. Thêm vào đó Lâm là đệ tử của Đạo Uyên,
cứ vào tiểu sử của Uyên ở Cao Tăng truyện quyển 7 tờ 368a1-11 thì ông
mất lúc 78 tuổi dưới thời Tống Văn đế. Giả như Uyển mất khoảng
năm 430, thì ông sinh khoảng những năm 350 - 360. Năm sinh 380 của Lâm như vậy
không đến nỗi xa vời cho lắm. Bằng vào những phân tích ấy, niên đại
370 - 470 có thể được rút ra cho Huệ Lâm, mặc dù cái câu "sở tuế
phẫn kết nhi tốt" của Hoài Tố nói trên.
Lâm có lẽ là một người dễ tạo
hiểu lầm và bàn cãi, do thế ngày nay ta có ít nhất hai hình ảnh khá
trái ngược về ông.
Huệ Hạo, trong Cao Tăng truyện đã
cho biết: "Đệ tử của Uyên là Huệ Lâm, vốn họ Lưu, người Tần
quận, giỏi biết các kinh và Trang Lão, bày chuyện khôi hài, ưu nói cười,
sở trường về viết lách; cho nên có tập làm 10 quyển, nhưng tính ngông
ngạo, lại tự hay khoe khoang. Uyên thường đến Phó Lượng, Lâm ban đầu
đang ngồi; tới khi Uyên đến, Lâm không chịu trí lễ. Uyên nổi giận, đỏ
cả mặt. Lượng bèn phạt Lâm hai mươi trượng. Tống Thế tổ nhã trọng
Lâm, khi tới thăm, thì thường một mình lên trên giường. Nhan Diên Chi, mỗi
lúc đem điều này ra chê trách, vua liền không vui. Sau LÂm viết Bạch hắc
luận, trái với lý thuyết Phật giáo. Thái thú Hoạnh dương Hà Thừa
Thiên cùng Lâm đọ giáp cùng nhau kích dương, làm Đạt tính luận, cũng câu
nệ một phía, chê mắng Thích giáo. Nhan Diên Chi và Tôn Bính kiểm bác hai
cuốn luận ấy, mỗi một người hơn một vạn lời. Lâm, khi đã hủy
báng pháp bị của mình, liền bị đuổi ra Giao Châu. Đời nói: "Uyên
công thấy ma tinh, tức là người này vậy".
Cái câu nhận xét cuối cùng, nói
lên không ít thái độ đầy tức giận của Huệ Hạo và hàng ngũ Phật giáo
thời ông và trước ông. Về phía khác Tống thư và Nam sử không ghi lại
một điểm gì làm cho ta nghĩ Lâm là một người "ưu khoe khoang ngông
ngạo đùa bỡn". Hơn nữa chúng cũng chép lại hoàn toàn nguuyên văn của
Quân thiện luận, nhờ thế, ngày nay ta mới biết một phần nào tư tưởng
của Lâm, và cho những thầy tu muốn tẩn xuất Lâm vì cuốn sách đó là
những "cựu tăng". Chúng viết: "Huệ Lâm, người huyện Tần,
quận Tần, nguyên họ Lưu, thưở nhỏ xuất gia ở chùa Trị Thành, có tài
chương, học gồm cả trong ngoài, là chỗ sở tri chân nghiã của Lô Lăng
vương. Ông từng viết Quân thiện luận, lời nó thế này (...) Luận ban
hành ra ở đời, cựu tăng cho là chê trách Thích thị, muốn tẩn xuất
LÂm. Thái tổ thấy cuốn luận, bèn khen. Trong khoảng Nguyên gia, Lâm tham dự
vài quyền yếu, triều đình đại sự đều dự vào mà bàn cải, khách khứa
lui tới đông đúc, xe cộ trước cửa thường có vài chục cặp , bốn phương
nối nhau gởi tặng của cải, thế khuynh một thời. Ông chú thích Hiếu
kinh và thiên Tiêu diêu của Trang Tử, văn luận còn truyền ở đời".
Với hai bản tiểu sử này, ta có
thế thấy, những người đồng đaị trẻ tuổi của Lâm đã nhìn Lâm như
thế nào. Điểm lôi cuốn nằm ở chỗ, họ để Lâm lộ ra như một người
trung thực và có cam đảm nói ra sự trung thực của mình. Là một người
trung thực, bởi vì ông dám bảo "Thích Ca biện bất nhi thật", dù
ông là một nhà sư Phật giáo và thừa nhận giá trị đạo đức của Phật
giáo về khía cạnh "lục độ dự ngữ giáo tịnh hành, tín thuận dự
từ bi tề lập", cuối cùng dẫn đến sự ra đời của thuyết "thù
đồ đồng qui". Là cam đảm, bởi vì ông dám viết ra nó một cách
công nhiên. Đây là lối đánh giá của HÀ Thừa Thiên. Trong lá thư gởi
cho Tôn Bính ở Hoằng minh tập quyển 3 tờ 20a14-16, Thiên viết: "Lâm Tỳ
- kheo tuy mặt mũi là thầy tu, nhưng tính tình ngay thẳng, hình như sâu biết
sự chân giả khác nhau, nên không kiêng kinh, giúp thầy, để mà tô vẽ cho
một học thuyết sai. Tôi vì thế kính trọng ông".
Với những đánh giá như thế, việc
Lâm nêu lên thuyết "thù đồ đồng qui"không những nhằm địa
phương hóa lý thuyết Phật giáo cho những người Phật tử thuộc văn minh
viễn đông, mà còn tượng trưng một nỗ lực đầu tiên việc xã hội
hóa Phật giáo, biến nó thành một thứ Phật giáo dấn thân với một lý
thuyết xã hội dấn thân. Và điểm này phải kể là một đóng góp đặc
sắc của Lâm.
Nhưng trong khi làm thế, nhất là
khi ông ra mặt thẳng thắn phê bình Phật giáo thời ông, Lâm đồng thời
tạo nên những phản ứng quá khích từ hàng ngũ Phật giáo Trung quốc, mà
bằng chứng la ta đã có dịp thấy qua những nhận xét trên của Hà Thượng
Chi và Huệ Hạo. Phản ứng ấy cũng như quan niệm Phật giáo của Lâm chắc
hẳn đã được biết đối với hàng ngũ Phật giáo nước ta cứ vào sự
giao thương điển tịch và tin tức do chúng tôi phân tích ở trước.
Một khi đã thế, chúng ta không có
gì ngạc nhiên về việc Đạo Cao cảnh cáo Lý Miễu đừng có "hấp tấp
trong việc đồng qui", mặc dù ông vẫn cứ lập đi lập lại cái truyện
"tiên nho vảng triết đều có nói sơ điển ấy từ lâu, đường không
khác lối, họ chỉ thuật lại mà không làm ra". Khẳng định như vậy,
Nho giáo không gì hơn là một nối dài của Phật giáo.
Và chúng ta cũng không có gì mà phải
ngạc nhiên, khi Pháp Minh đã khiển trách một cách bóng gió những kẻ
"tuy thế trí biện thông, sách vở đầy bụng, trăm nhà thấu suốt,
chín phái rõ qua ... mà cũng chưa thoát khỏi sự sai lầm để che lấp tâm
tình hay sự nghi ngờ từa tựa để lo nghĩ mông lung, rồi phó thác cho đồng
bóng, đầu thành với phù chú, ôm lấy chuyện bậy để hy vọng điều phải,
giữ chặt việc giả để chờ đợi sự chân, chần chờ hai lòng, trù trừ
hai ngã..."
Những phê bình và khiển trách loại
vừa kể, hẳn một phần nào nhắm tới Huệ Lâm. Khẳng định như vậy,
người ta sẽ hỏi, thế thì ta có thể biết gì về những liên lạc giữa
Lâm và Lý Miễu cùng những lãnh tụ chính trị khác nhau của nước ta thời
bấy giờ, nhất là khi ta không biết một cách chắc chắn Lý Miễu là ai.
Trước câu hỏi này, chúng tôi tất
không thể bàn cãi gì thêm, bởi ngoài chuyện không biết một cách chắc
chắn về Lý Miễu, chúng ta không có một dữ kiện nào hết, thành văn hay
bất thành văn về họ. Tuy thế, nếu Lâm trong khi còn ở Trung Quốc, đã
giữ vai trò trọng yếu tại triều đình, thì ta có thể hy vọng là, lúc bị
đuổi ra nước ta, đặc biệt là những người có trách nhiệm khởi nghĩa,
đón nhận ông như một đóng góp mới cho thành phần trí thức và lãnh đạo
Việt Nam.
Việc những lãnh tụ người nước
ta vào thế kỷ thứ V là những người Phật giáo và cần đến sự giúp
đở của thành phần tu sĩ Phật giaó Việt Nam chống Trung Quốc, có thể
thấy qua mẫu chuyện sau đây về sự liên lạc giữa Lý Thúc Hiến và một
nhà sư tên Huệ Đào.
Như đã thấy, Lý Thúc Hiến là
tùng tử và là người kế nghiệp sự khởi nghĩa của Lý Trường Nhân.
Trong Pháp uyển châu liêm quyển 36 ĐTk 2122 572a20-b3 viết vào năm 666, Đạo
Thế cho trích từ Lương kinh tự ký câu chuyện sau: "chùa Nam minh chân
đời Lương tại huyện Mạc Lăng làng Trung Hưng vào năm Phổ thông thứ năm
(525), Sa - môn Huệ Đào khởi tạo, Đào lúc sinh vốn họ Từ, đầu đời
Tề, bèn theo cậu mình ra ở Lô Lăng, giữa đường lượm được một cái
xiêm, bên rong cái xiêm có một cái khăn năm màu, bên trong cái khăn có chỉ
ngũ sắc, mỗi một chúng làm thành ra một gói. Bèn bắt đầu mở chúng
ra, tới bốn vòng thì đều không thấy chúng đâu cả. Cuối cùng ông mở
cái vòng chỉ dưới hết, thì thấy bóng sáng chớp , chiếu sáng cả một
nhà. Nhân thế ông đồng thời cảm thấy cái điều tốt của thần, vào nước
không chết vào lửa không cháy. Người nhà cho ông là phát cuồng, bắt đầu
làm lồng cũi, đóng khóa rất chặt. Nhưng bổng chốc ông lại lọt ra. Họ
liền biết ông có thần lực, nhơn đó họ thiết ghế trống, xin ông làm
phước, thì trên không có tiếng nói rằng: "Ta là Bồ TÁt Trường
Sinh, ứng ra để làm lợi đất nước; các người nên quy y Phật pháp, mà
thanh tịnh cúng dường". Từ đó, họ dành nhau đem hoa hương dâng
cúng, mỗi mỗi đều có linh nghiệm. Người miền nam là Lý Thúc Hiến kết
nguyện xin mời về châu mình, sau Hiến quả nhiên được làm thứ sử Giao
Châu, bèn liền tạo bức thần ảnh bằng trầm hương. Người đời cho thần
là quí bông đẹp, nhân thế họ gọi là thần Hoa nương. Trăm họ gởi đồ
đến cúng đấy nức, sau khi trai hội có dư. Huệ Đào dạy cho tất đều
đem làm chùa".
Đây có lẽ là một mẫu chuyện
duy nhất trước thời Đinh Tiên HOàng nói tới những liên lạc cụ thể giữa
những lãnh tụ chính trị nước ta và hàng ngũ Phật giáo một cách công
nhiên. Nó được Đạo Thế bảo là trích từ Lương kinh tự ký. Ngày nay
chúng ta không biết cuốn Lương kinh tự ký này do ai viết và viết lúc
nào. Điều chắc chắn là nó phài ra đời khoảng giữa những năm 525 và
666, bởi vì Thế viết xong quyển Pháp uyển châu lâm trước năm 666, còn
nó lại nói đến Phổ thông thứ năm của Lương Vũ đế, tức năm 525.
Cứ vào mẫu chuyện này, thì Lý
Thúc Hiến đã mời Huệ Đào, mà trong những cơn "phát cuồng" được
biết như Bồ Tát Trường Sinh đến nước ta và sau đó được chức thứ
sử Giao Châu và Huệ Đào vào khoảng "Tề sơ" mới bắt đầu phát
cuồng.
Đây là một điển đáng chú ý, bởi
vì Tiêu Đại Thành lên ngôi vào tháng 4, thì tháng 6 ông đã ra chiếu cho
Hiến làm thứ sử Giao Châu: "Giao CHỉ và Tỉ cảnh riêng cảnh thơ sóc,
ấy là vì vận của triều đình trước mới suy, nên chúng ỷ thế biển,
mà không vào chầu, nhân mê muội, chúng đi quá, không còn qui khoản; nay đáng
tha thứ cho Giao Châu, trong xứ ấy chỉ có một người Lý Thúc Hiến tức
có thể yên phủ nam thổ, văn vũ rõ tài tuyển dụng, cùnn sai đại sứ nêu
rõ lại ân đức của triều đình, nên lấy thí thủ Vũ Bình thái thú
hành Giao Châu phủ sự Lý thúc Hiến làm thứ sử Giao Châu."
Nếu vào khoảng Tề sơ Huệ Đào mới
có thần lực, thì phải chăng chỉ trong hai tháng, mà tiếng vang đã đến
tai Lý Thúc Hiến, để Hiến xin về châu mình? Huyện Mạt Lăng, ở phủ
Khai Phong tình Hà Nam và huyện Lô Lăng tại phủ cát An tỉnh Giang Tây, cả
hai khá xa xôi với người nước ta. dẫu sao đi nữa, Lý Thúc Hiến là một
Phật tử và đã có liên lạc với hàng ngũ Phật giáo thời ông. Thái độ
tôn giáo của Hiến biểu lộ không ít trong việc tạo ra một thần ảnh của
Bồ Tát Trường Sinh bằng trầm hương. Trần hương dĩ nhiên là một thổ
sản nổi tiếng của nước ta, mà Nam châu dị vật chí do Vạn Chấn viết
vào khoảng năm 290 và Đạo Thế dẫn trong Pháp uyển châu lâm quyển 36 tờ
573c24-574a3 cho biết thế này: "Mộc hương sản xuất ở Nhật Nam, muốn
lấy nó thì nên trước phải chặt cây cho nó nằm trên đất khá lâu, vỏ
bên ngoài hủ xám đi, cái lòng bên trong của nó cứng, để vào nước liền
chìm, nên gọi là trầm hương, cái khúc giữa cái lòng và vỏ thì không cứng
thuần cho lắm, để vào nước thì không nổi không chìm, cùng ngang với nước,
nên gọi là chiêm hương, còn cào vỏ rất thô vụn thì gọi là tạm hương".
Câu chuyện vừa dẫn không những
cho thấy một phần nào khía cạnh tôn giáo của những lãnh tụ khởi nghĩa
nước ta vào thế kỷ thứ V, nghĩa là, cho biết họ là những Phật tử,
mà còn bày tỏ khá nhiều sự ân cần đến nhân tài trong những cuộc vận
động độc lập chóng Trung Quốc của họ. Và những nhân tài ấy đôi khi
gồm cả người Trung Quốc như trường hợp Huệ Đào vừa kể trên.
Sự tình này giải thích không ít,
tại sao Huệ Lâm có thể tham dự vào phong trào vận động độc lập tự
trị kiểu của Lý Trường Nhân và Lý Thúc Hiến. Nếu Lý Miễu là Lý Trường
Nhân và Huệ LÂm, sau khi bị đuổi ra nước ta vào khoảng năm 454. đã làm
việc với Miễu, thì chuyện Nhân giết "bắc lai bộ khúc" của Trương
Mục vào năm 468 không có gì lạ hết. Lâm đã bị tập thể tăng lữ cũng
như chính trị xứ mình khai trừ và đuổi đi, tất có cả lý do để hợp
tác với những phong trào chống lại tập thể tăng lữ và nhất là tập
thể chính trị đó.
Về phiá nước ta, Lâm quả là một
nhân vật đáng chú ý. Ông không những là một nhà sư nổi tiếng và một
học giả với một kiến thức sâu rộng, biểu hiện qua việc ông viết
chú thích cho Hiếu kinh và thiên Tiêu Diêu của Trang Tử, mà còn là một người
tham dự vào chính trị tại triều đình Trung Quốc, mà người đương thời
như Khổng Khải đã gọi một "hắc y tể tướng" - vị tể tướng
thầy tu - và thụ hưởng sự sủng ái kính trọng của kẻ đứng đầu triều
đình ấy, tức Tống Văn đế. Yếu tố sau đối với những lãnh tụ cuộc
khởi nghĩa năm 468 chắc hẳn là một yếu tố quan trọng, bởi vì nó giúp
họ thấy một phần nào cái cơ chế và diễn trình quyết định chính trị
của chính quyền Trung Quốc về nước ta, từ đó họ có thể đề ra những
biện pháp đối phó thích hợp.
Về Lý Trường Nhân thành công
trong công tác giết "bắc lai bộ khúc" của Mục, mà không tạo
nên một phản ứng đáng kể nào từ chính quyền của Tống Minh đế, không
phải là không có lý do của nó. Và việc Nhân đợi cho Mục chết, để làm
chuyện ấy, cũng không phải là hoàn toàn vô cớ. Mục là người Trung Quốc
và là một Phật tử thuần thành, bởi vì người con gái của ông đã đi
tu trở thành một ni cô. Dưới sự lãnh đạo của Thích PHáp Độ, cô đã
tạo khá nhiều tiếng tăm bàn tán, mà dấu tích ta còn thấy trong một bài
do Tăng Hựu sưu tập lại ở Xuất tam tạng ký tập quyển 5 tờ 40c19-42c1,
và trong bản tiểu sử của Pháp Độ ở Cao Tăng truyện quyển 1 tờ
329c16-28.
Cứ vào hai tài liệu ấy, Pháp Độ
đã phê bình chế độ sống tập thể tăng lữ Phật giáo Trung Quốc bấy
giờ, nhất là chế độ ăn, mặc và trì giới, và cổ vũ việc trở về với
đời sống tăng già Ấn Độ của Phật giáo, đó là quấn y và xin ăn ấy,
đặc biệt là cảnh các ni cô quấn y xin ăn và trật bả vai trong khi Bố
Tát, trong liên hệ đó, họ kẻ đến những người đi theo cách sống quấn
y xin ăn man rợ này của Pháp Độ và than vãn là, chúng gồm cả những con
nhà quyền quí như ni cô Phổ Minh ở chùa Hoằng Quang, người con gái của
thứ sử Giao Châu Trương Mục.
Việc Huệ Thắng chỉ sống nhờ phần
vệ và Đạo Thiền hoang thực tệ y, mà ta gặp sau này, như vậy không phải
là những thí dụ ngoại lệ. Chế độ quấn y xin ăn do đó rất có thể
là khá phổ biến ở nước ta vào thế kỷ V.
Trương Mục đến nhậm chức thứ
sử ở nước ta vào năm 464. Bốn năm sau Lý Trường Nhân nổi lên. Bối cảnh
Phật giáo của Mục từ đấy chắc hẳn đã đóng góp không ít cho sự
thành công của Nhân và một lần nữa cái chức thứ sử của ông chỉ có
danh nhưng chắc không có thực, như phần lớn những người trước và sau
ông. Nói tắt, nếu Nhân đã thành công mở đầu cho giai đọan độc lập
khá dài đầu tiên , thì ông hẳn đã được những người như Huệ Lâm,
Đạo Cao hay Pháp Minh giúp sức như Huệ Đào đã giúp người kế nghiệp Lý
Thúc Hiến, dù ngày nay ta không có một tư liệu thành văn nào công khai khẳng
định như thế.
Niên đại của Đạo cao Pháp Minh và Lý Miễu [^]
Qua những bàn cãi trên, bây giờ
nó có thể trở thành rõ ràng là, trong tình trạng tư liệu và dữ kiện
hiện tại, chúng tôi không thể xác định được một cách chắc chắn đáng
muốn những tác giả của Saú lá thư trên là những người ra sao, sống vào
những năm tháng nào và viết những lá thư tại những thời điểm nhất
định nào. Điểm chắc chắn là, họ phải viết chúng sau năm 435, năm Quân
thiện luận lưu hành, và trước năm 455, năm Đàm Hoằng tự thiêu tại
chùa Tiên sơn. Tuy những dữ kiện chắc chắn ấy, chúng tôi đã dựa vào
một số những bằng cớ trường hợp nội tại và rút ra niên đại 454 -
455 như là kỳ gian ra đời của Sáu lá thư.
Nếu chấp nhận kỳ gian đó, niên
đại của Lý MIễu, Đạo Cao và Pháp Minh có thể giả thiết như thế này.
Miễu có lẽ sống vào khoảng 400 - 470 và rất có thể đồng nhất với Lý
Trường Nhân. Lý Đam Chi, trước khi làm thứ sử Giao Châu vào năm 435 đến
năm 437, đã làm thứ sử Giao Chỉ. Ông do đó, cứ vào nguyên lai của những
thái thú, tất có thể là người nước ta. Ông cùng Lý Miễu và Lý Trường
Nhân có những liên lạc gì, ngày nay chúng ta không thể bàn cãi được. Nếu
Lý Đam Chi là Lý Miễu, thì cố nhiên niên đại của Lý Miễu, phải mở rộng
ra và thành khoảng 39 - 470. Nói cách khác, niên đại của Lý Miễu có lẽ
nên đặt trong khoảng 390 - 470, ngay cả khi ông chỉ sống giữa những năm
420 - 470.
Niên đại của Pháp Minh, nếu lá
thư thư sáu của ông viết vào khoảng 434 - 455, thì chúng ta có thể đặt
ông giữa khoảng 370 - 460, bởi vì khi viết nó ông đã "đầu bạc".
Về niên đại của Đạo Cao, tuy Cao không cho biết tóc tai của ông thế
nào, nhưng với cái xưng danh "đại hoà thượng" của Lý Miễu, ta
có thê giả thiết ông sống cùng thời với Pháp Minh, và chắc già hơn Pháp
Minh. Hơn nữa hai lá thư đầu trả lời cho Lý Miễu thì do Đạo Cao viết,
nhưng đến lá thư thứ ba, Pháp Minh phải viết. Tại sao ? Có thể Cao vì
đau yếu hay không muốn trả lời, nên đã giao cho Pháp Minh viết hộ. Hay cũng
có thể Đạo Cao đã chết, nên không thể viết đựợc. Dù với trường
hợp nào chăng nữa, thì rõ ràng Đạo Cao với chức vị "đaị hoà thượng
của mình cũng phải già hơn Pháp Minh. Vì vậy, chắc Đạo Cao phải sống
giữa những năm 365 - 455.
Bây giờ, phối hợp niên đại này
với những phê bình và dữ kiện nêu trên, ta có thể vẽ sơ lại cuộc đời
của Đạo Cao như thế này. Sinh khoảng năm 365. Ông viết Tá âm và Tá âm
tự khỏang những năm 390 - 450. Khoảng những năm 435 - 455 ông viết những
lá thư cho Lý Miễu. Ông mất khoảng năm 455 hay trước đó, khi đang có những
trao đổi thư tín giữa ông và Miễu. Cuọc đời ông chắc viết nhiều,
nên đã có Đạo Cao pháp sư tập lưu truyền ở Trung Quốc cho đến khi nó
lưu lạc đến Nhật Bản và được ghi vào Nhật BẢn kiến quốc tại thư
mục lục vào thế kỷ thứ 9.
Một lần nữa, những niên đại
ấy là những niên đại giả thiết. Nếu nay mai những dữ kiện mới tìm
thấy, như việc khai quật gặp ngôi mộ hay bia văn của một trong những
người vừa kể chẳng hạn, xuất hiện, chúng ta đương nhiên phải tái kiểm,
và tái định chúng. Ở giai đoạn này, nếu chúng có thể được chấp nhận,
thí ít nhất trước Huệ Thắng và Đạo Thiền, Phật giaó nước ta còn
có hai vị sư khác, đó là Đạo Cao (365 - 455) và Pháp Minh (370 - 460).
Trong khi Đạo Cao và Pháp Minh đối
diện với cuộc khủng hoảng niềm tin do Quân thiện luận gây ra dưới ngòi
bút của Lý Miễu, thời một vị sư khác vẫn tiếp tục lối tín ngưỡng
thực tiễn của nền Phật giáo truyền thống. Vị sư ấy ngày nay viết dưới
tên Hiền pháp sư. Để thấy rõ những xu hướng cũng như những thái độ
phản ứng chung của Phật giáo thời bấy giờ với vấn đề tín ngưỡng,
ta nên tìm hiểu vị sư này.
Ve͊ Hiền pháp sư [^]
Hiền pháp sư lần đầu tiên được
Maspéro vạch ra trong bài nghiên cứu về giấc mộng người vàng do Vương
Diệm ghi lại trong Minh tường ký. Có lẽ là Maspéro đã Trung hoá cách đọc
cái tên của pháp sư thành Kien, nên cả Trần văn Giáp lẫn thầy Mật Thể,
mặc dù có kể đến bản nghiên cứu vừa nói của Maspéro đã không liệt
ra cái tên Hiền pháp sư, và không tra khảo nó, trong những luận văn của
họ. Thêm vào đó, vì chú trọng đến giấc mộng người vàng Maspéro
không bao giờ thử nghiên cứu vị tên Hiền pháp sư ấy, trừ chuyện kể
tên như đã nói.
Ngày nay, chúng ta có cả thảy ba tư
liệu cho việc nghiên cứu vị sư này, đó là một tóm tắt của Đạo Tuyên
trong Tập Thần châu tam bảo thông lục quyển trung ĐTK 2106 tờ 419a15-b6 viết
năm 664, mà hai năm sau Đạo Thế cho chép lại trong Pháp uyển châu lâm quyển
14 tờ 388c10-29 và tạo nên tư liệu thứ hai. Cuối cùng là lời tự của
chính Vương Diệm cho tác phẩm Minh tường ký của ông, mà may mắn mà Đạo
Thế đã cho trích một cách hoàn toàn cũng trong Pháp uyển châu lâm quyển
17 tờ 411a8b13.
Cứ vào tóm tắt của Đạo Tuyên
thì "vào khoảng đầu Tề Kiến Nguyên, Vương Diệm xưa khi tuổi còn
nhỏ dại, ở Giao Chỉ thọ ngũ giới với Hiền pháp sư. Sư cho một tượng
Quan Âm bằng vàng bảo cúng dường, Diệm bèn đem về Dương Đô, gởi
chùa Nam Giản. Diệm ban ngày ngũ, mộng thấy tượng đứng ở một góc
nhà, bèn cho thật là lạ, liền đến chùa thỉnh về nhà. Chiều đó Nam Giản
mất hơn mười tượng, người ta ăn trộm, để hủy mà đúc tiền. Đến
mùa thu Tống Đại Minh năm thứ 7, nó liền phóng quang, rọi tới 3 thước,
ánh vàng dọi chóa mắt, cả nhà đều thấy. Sau đem tượng gởi chùa Đa Bảo,
vì Diệm đi lên đất Sở châu kinh. Trải gần 10 năm không biết tượng
ở đâu. Đến khi về lại Dương Đô, bèn mộng thấy tượng rõ ràng ở
giữa những tiểu tượng tại phía đông của điện chùa. Sáng mai bèn đến
chùa tìm được như trong mộng, ấy là ngày 13 tháng 7 năm Kiến Nguyên thứ
nhất. Cho nên lời tự của Diệm trong Minh tường ký nói rằng ...".
Đấy là lời tóm tắt của Đạo
Tuyên, mà Đạo Thế đã trích dẫn. Chúng tôi cho dịch hết, trừ đoạn dẫn
lời tựa của Vương Diệm. Chúng tôi không cho dịch đoạn dẫn ấy, bởi
vì nó chỉ là một trích dẫn ngắn ngủi không hoàn tòan và vì chúng tôi
có ý dịch cả lời tựa dưới dây.
Với tóm tắt vừa thấy, thì Vương
Diệm là người Thái nguyên, lúc nhỏ đến ở nước ta và thọ năm giới
với một vị sư, mà ký ức bé nhỏ của Diệm chỉ cho biết là tên Hiền
pháp sư. Vị sư cho Diệm một cái tượng Quan Âm và sau đó những thần dị
đã xảy ra giữa khoảng Tống Đại Minh và Tề Kiến Nguyên, tức giữa khoảng
năm 457 - 483. Lời tóm tắt này như vậy quá đại lược. Vì nó quá đại
lược và vì sự quan trọng của việc xác định niên đại của vị sư,
toàn lời tự tựa của Diệm đáng được dịch ra đây.
Lời tự tựa ấy như đã nói, may
mắn được Đạo Thế cho trích một cách hoàn toàn trong bộ Pháp uyển
châu lâm của ông. Nó như thế này:
"Diệm dưới thời Tống lúc nhỏ
ở tại Giao Chỉ. Xứ ấy có Hiền pháp sư là một vị sư chùa Đạo Đức
- hay một vị sư Đạo Đức - bèn thấy trao cho Diệm ngũ giới, rồi lấy
một cái tượng vàng Quan Âm đem cho, bảo cúng dường. Hình của tượng làm
khác với ngày nay, nhưng không phải là loại rất xưa. Nó được đúc
trong khoảng Nguyên gia, thêm công trau chuốt nên tợ như có sự chân hảo.
Diệm thỉnh về Dương Đô, thì lúc đó tuổi mới lên tám, cùng với hai
người em, thường hết lòng siêng năng chuyên tinh cúng dường không mệt.
Sau nhà hư phải sửa, nên không có chỗ an thiết, phải đem gởi trong chùa
Nam giải ở Kinh sư. Bấy giờ, trăm họ đua nhau đúc tiền, cũng có kẻ
ăn trộm vàng về phá ra mà đúc. Khi ấy, tượng ở chùa đã trãi vài
tháng. Diệm ban ngày nằm ngủ thì mộng thấy tượng đứng ở một góc
nhà, ý cho là rất lạ. Lúc ấy ngày đã chiều, Diệm lập tức chạy đến
chùa xin nghênh về. Tối hôm đó, hơn mười cái tượng ở Nam Giai bị ăn
trộm mất. Sau đấy khá lâu vào lúc hoàng hôn, tượng phóng ánh sáng, chiếu
dọi hơn ba thước, ánh vàng đẹp dậy, sáng chóa cả mắt. Anh em của Diệm
và nô bộc trong nhà đều thấy, cả thảy hơn mười người. Bấy giờ vì
Diệm đang còn bé nhỏ, không thể lập tức ghi chép, sau đó viết ra thì
đã quên ngày tháng chỉ nhớ là ở vào mùa thu năm Tống Đại Minh thứ 7
thôi. Đến cuối đời Thái Thỉ, Diệm dời đến ở chùa Chu Toàn phố Ô
Y. Nhà sư chùa ấy đem tấm tượng ấy quyền ngụ chùa Đa Bảo. Diệm lúc
đó tạm lên ở Giang Đô, vị sư ấy đồng thời cũng đi lên Kinh sở,
nên không biết tượng ở nơi đây, trải gần 10 năm, thường sợ thần
tượng nhân đó mất tuyệt. Đến cuối đời Tống Thăng Minh, lại lướt
gót tới Giáp Biểu, trong khi đi ngang qua Giang Lăng, thì gặp vị Sa - môn
ấy, mới biết cái tượng ở đâu. Năm ấy Diệm trở về kinh sư, liền
đến chùa Đa Bảo hỏi. Vị chủ chùa là Ái Công nói "không có cái tượng
ấy" Diệm trở về nhà, nghĩ vị sư đó đi đứng đó đây nên làm mất
cái tượng ấy, lòng buồn vô hạn. Đêm ấy nằm mộng thấy một người
hiện ra nói rằng: "Tượng ở tại Đa Bảo, Ái công quên đó thôi, đáng
nên được đó". Rồi hiện đem Diệm đến chùa, người ấy tự tay mở
điện, thì tượng rõ rành rành rành giữa những tượng nhỏ tại phía đông
của điện. Đến sáng mai Diệm liền đến chùa nói cho Ái Công biết hết
thảy những gì mình mộng thấy. Ái Công liền vì thế mở điện, thì quả
nhiên thấy tượng tại phía đông của điện, như ở trong mộng, liền
đem tượng về. Lúc bấy giờ là ngày 13 tháng 7 năm Kiến Nguyên thứ nhất.
Tượng ấy, Diệm ngày nay thường tự cúng dường, gần như là rường cột
cho suốt cuộc đời mình. Chép lại việc này, lòng tôi vẫn xúc động sâu
xa, nhân đó đem những gì mình đã thấy, dệt thành cuốn ký này. Rằng
soi nhận tình gần, không gì hơn là nghi tượng; thụy nghiệm phát ra phần
lớn từ đấy mà nổi lên. Kinh nói rằng: "những loại hình tượng đúc,
đẽo, vẽ, dệt đều có hành động và phát ra ánh sáng". Nay hai bức
tượng Thích Ca và Di Lặc ở Tây vực đã phát ra ánh sáng như ánh bình
minh, ấy thuộc loại hình tượng đấy ư ? Nay Hoa Hạ đã rộng noi theo,
nên thần ứng rất hiển trước, ấy cũng vì qua năm, quần sinh nhạn mà cảm,
thì thánh linh liền mượn nhờ gỗ đá mà hiện ra sự u dị, mà không cần
phải hình dung cho đẹp đẽ mới có thể được vậy. Cho nên, đá chìm nổi
đáy, thật làm rõ sự giáo hóa của Mân Ngô; bụi vàng dờn dụa, dùng chỉ
ra cái họa của Hành Tống. Số còn lại giải bày cũng có liên hệ, tuy
khó cắt nghĩa một cách khúc chiếc, nên đem hết chỗ hay của chúng cùng
họp lại thành từng mục. Rằng, nếu kinh tháp có hiển hiệu thì sự chỉ
chứng của chúng cũng giống thế. Về những chuyện không được nhất quán
cho lắm, tôi xếp chúng tiếp theo ở cuối sách.
Đấy là toàn lời tự tựa của Vương
Diệm viết cho cuốn Minh tường ký của ông vào khoảng những năm 479 0
502. Chúng tôi cho dịch hết, không những vì nó sẽ giúp xác định niên đại
của vị sư tên Hiền pháp sư mà còn vì Vương Diệm là một người đã sống
tại nước ta và tiên phong khai sáng ra nền văn học tiểu thuyết của
Trung Quốc.
Nguyên bản Minh tường ký ngày nay
đã tán thất, nhưng được nhiều tác phẩm Phật giáo trích dẫn, mà với
một kiểm điểm sơ sài, chúng tôi đã đếm tới hơn một trăm câu chuyện
của nó đã xuất hiện chỉ trong Pháp uyển châu lâm thôi. Nó chắc chắn
phải viết thời Nam Tề, tức khoảng năm 479 - 502, bởi vì Huệ Hạo đã dẫn
nó như một nguồn tài liệu trong lời tựa ông viết vào năm 519 cho Cao
Tăng truyện quyển 14 tờ 418b29-c1.
Cứ vào lời tự tựa trên thì
trong khoảng Nguyên gia, Diệm đang ở tại nước ta và thọ giới với một
Hiền pháp sư. Pháp sư cho ông một cái tượng đức Quan âm bằng vàng. Đến
tám tuổi, ông trở về Dương Đô, đem theo cái tượng ấy. Số tuổi này,
chúng tôi dịch sát nghĩa đen của chữ "điêu sấn" trong câu
"thời niên đại điêu sấn", dựa trên định nghĩa của Hàn thi
ngoại truyện, theo đó "con trai tám tháng thì sinh răng, tám tuổi thì
điêu răng; con gái bảy tháng thì sinh răng, bảy tuổi thì sấn răng".
Thuyết văn giải tự cho biết "sấn" có nghĩa là "rụng".
Đến năm đại Tống Đại Minh thứ
bảy, tức năm 463, Diệm đang còn than vãn là "ấn tiểu" nên không
thể làm chuyện "đề ký tỷ gia soạn lục", đến nổi sau khi lớn
lên, quên cả ngày tháng xảy ra cái biến cố thần dị, ở đó cái tượng
Quan Thế Âm do Hiền pháp sư cho phóng quang, và chỉ nhớ cái năm Đại Minh
thứ 7 vừa thấy.
Bằng hai chi tiết này, chúng ta có
thể giả thiết là, Diệm ở ta nước ta vào khoảng năm 445 - 450. Hiền pháp
sư của chú bé Diệm như vậy chắc phải sống giữa những năm 360 - 450. Vì
Hiền pháp sư truyền giới cho Diệm, lúc Diệm còn quá bé nhỏ, nên trong
lúc viết về nhà sư này, ông không có một ký ức rõ ràng nào cho việc
mô tả, mà chỉ có thể viết một cách ngắn ngủi: "Hiền pháp sư giả,
đạo đức tăng dã".
Bốn chữ "đạo đức tăng dã"
này, ở trên chúng tôi cho dịch thành hoặc như "là một nhà sư chùa
Đạo Đức" hoặc như "là một nhà sư đạo đức". Hai trường
hợp này đều có thể. Nếu là trường hợp đầu, chúng ta biết thêm một
ngôi chùa xưa nhất của nước ta, đấy là chùa Đạo Đức. Nếu là trường
hợp sau, giá trị tin tức của nó không gì nhiều, đấy là cách hiểu
thông thường về bốn chữ ấy. Dù với trường hợp nào đi nữa, Hiền
pháp sư đã phải sống vào khoảng 360 - 450 và đã có một ảnh hưởng sâu
đậm trên nhà văn nổi tiếng Trung Quốc với cái tượng Quan Âm của người.
Về Vương Diệm, một số người
viết văn học sử Trung Quốc đã coi ông như một nhà sư xuất gia tại nước
ta, và như vậy là một đệ tử của Hiền pháp sư. Nhưng cứ vào lời tựa
trên, thì điểm này không rõ ràng gì hết, ít nhất là trước lúc Diệm tới
chùa Ô Y khoảng những năm 470 - 472, bởi vì ông không những nói tới cái
nhà tranh của ông, mà còn tới những nô bộc trong nhà. Trước năm 470 -
472, Diệm chắc hẳn đang còn ở nhà, và Hiền pháp sư không gì hơn là một
Bổn sư Qui y, chứ không phải là một Bổn sư thọ giới.
Với sự có mặt mới này của Hiền
pháp sư, lịch sử Phật giáo nước ta trước năm 440 bây giờ có thêm một
người nữa. Điều đáng tiếc là, trong tình trạng nghiên cứu và tư liệu
hiện tại, chúng ta không thể biết gì hơn ngoài cái tên của nhà sư. Và
ngay cả cái tên ấy, nó cũng không phải là một cái tên tiêu chuẩn đầy
đủ ý nghĩa như đa số những tên Phật giáo tiêu chuẩn khác.
Cố nhiên, việc Diệm nhớ cái tên
ấy như Hiền pháp sư, chứng tỏ, vì sư ấy chắc hẳn được gia đình
cha mẹ Diệm kính trọng và tin tưởng một cách đặc biệt. Ông rất có
thể có một liên lạc mật thiết với gia đình Diệm, điển hình là cái
tượng ông cho Diệm và bảo Diệm hãy cúng dường.
Trong lời tự tựa trên, Diệm
không cho ta biết nguyên quán ở đâu. Theo Huệ Hạo, từ đấy Đạo Tuyên,
thì Diệm đến từ quận Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây. Một lần nữa, đó là
tất cả những gì chúng ta biết về nhà văn, và rất có thể nhà sư này,
vì thế không thể bàn cãi gì thêm. Tuy thế, chúng tôi nghĩ, dù phát tích
từ Trung Quốc, Diệm rất có thể sinh ở nước ta, cứ vào sự thọ giới
sớm kể trước.
Điều đáng ngạc nhiên là, trừ
cái tượng Quan Âm thần dị ấy, những trích dẫn còn lại hiện nay trong
những bộ sách Phật giáo Trung Quốc như Tập Thần châu tam bảo cảm
thông lục hay Pháp uuyển châu lâm v.v... không một câu chuyện nào đã
liên hệ với tình trạng Phật giáo nước ta. Nước ta tất không phải là
thiếu những chuyện thần dị kiểu của Minh tường ký.
Sự vắng mặt này không biết đã
đến chính từ Diệm hay từ những người trích dẫn Trung Quốc, vì nguyên
bản của Minh tường ký ngày nay đã tán thất, như đã nói. Dù không một
bằng cớ hiển nhiên nào, chúng tôi nghĩ, sự vắng mặt xảy ra vì những
người trích dẫn. Bởi vì về một mặt Diệm nói tới chuyện ông "tu
phục kỳ thành" cái cuốn Ký của ông. Về mặt khác, nước ta có những
chuyện thần dị xuất hiện vào thời Diệm làm chuyện chuyết thành đó,
kiểu câu chuyện Lý Thúc Hiến và Huệ Đào, mà chúng ta đã có dịp thưởng
thức ở trên.
Dù những thiếu thốn và bất xác
đáng tiếc ấy, việc có một pháp sư tên Hiền sống khoảng những năm
360 - 450, là một điều chắc chắn. Qua những phân tích trên, ta thấy dù
những luận điển do những lá thư của Lý Miễu nêu lên, niềm tin vào sự
thần di linh ứng vẫn tiếp tục được ngợi ca và cổ xúy. Dĩ nhiên, xu hướng
chung hẳn phải là chống một niềm tin như vậy, nên sau này Vương Diệm,
vị học trò của Hiền pháp sư, đã phải viết Minh tường ký để xác định
và tuyên truyền niềm tin tưởng vào u minh, nà những điềm lành, điềm gỡ.
Điều này, ta sẽ thấy rõ, khi phân tích nội dung của cuộc khủng hoảng
No䩍 dung cuộc khủng hoảng [^]
Qua những phân tích lịch sử trên,
ta thấy Sáu lá thư ra đời biểu hiện những mâu thuẫn nội bộ của
tình trạng lý luận và tín ngưỡng Phật giáo nước ta, mà vào lúc ấy đã
đạt đến một mức độ gay gắt khó giải quyết. Nó gay gắt đến nỗi
không có một cách thức giải quyết nào hơn là chính Đàm Hoằng phải tự
thiêu mình nhằm chứng minh luận điểm "quên mình, mà đem hết lòng
thành thì tất có cảm, có cảm tất có thấy được Phật" của Đạo
Cao là đúng, và khẳng định "nay học đòi theo ánh thần mà chẳng có
mật tấc sáng" của Huệ Lâm là sai lầm. Dĩ nhiên, những mâu thuẫn
ấy đã hiện diện trong quá trình hình thành lịch sử Phật giáo Việt
Nam, mà đến thời Đạo Cao đã chín mùi, để chỉ cần một kích thích
bên ngoài cũng đủ làm cho chúng tạo nên một tình trạng khủng hoảng.
Xét nội dung sáu lá thư, vấn đề xoay quanh câu hỏi, tại sao không thấy
chân hình Phật ở đời ?
Lý Miễu, người đầu tiên nêu
lên vấn đề, đã phát biểu trong lá thư thứ nhất: "Nếu giáo pháp
là khéo hay lợi vật độ thoát nhiều người, thì tại sao lại không thấy
chân hình nó ở đời ? Ấy phải chăng chẳng qua là lời nói suông không
thật ? Nay chính là lúc phải cần tìm nguồn gốc phương Tây của
nó". Trong lời đáp, Đạo Cao trả lời là, nếu chúng ta chưa thấy chân
hình Phật ở đời, ấy là vì chưa phải lúc. Cho nên, trong lá thư tiếp
theo, Miễu nói: "Đại nghĩa đã bị khó khăn, bọn Nho Mặc đang tranh
nhau nổi lên, thì há để cho chính tín bị lu mờ, làm cho sự hủy báng hiểu
lầm càng thêm tăng hấn sao ? Có thể nào không lấy sự thị hiện và ấn
ký để làm chứng, nhằm giữ lấy mình ư ? Đấng Đại Thánh ban cái trí
vô ngại, duỗi lòng thương không cầu, sao lại hà tiện cái ánh sáng rực
rỡ của mình để làm tối tăm những tài năng đi tìm hiểu..." . Nói
cách khác, Lý Miễu muốn hỏi tại sao là chưa phải lúc ? Nếu Đức Phật
sẵn lòng tư bi vô hạn, sao lại không hiện ra cho mọi ng7ời thấy, để dứt
mọi nỗi nghi ngờ ? Để trả lời, Cao đưa ra thuyết cảm ứng, nói rằng
"quên mình và đem hết lòng thành thì tất có cảm, có cảm tất có thấy,
không có cảm thì không có thấy, thì người không thấy rốt cuộc cũng không
tin có thấy, (nên) thánh nhân đâu phải là không thường thấy". Trong
lá thư thứ sáu, Pháp Minh đã cho thấy cụ thể thuyết cảm ứng vừa nói
là gì.
Giải quyết vần đề Lý Miễu nêu
ra bằng thuyết cảm ứng, Đạo Cao đã tự đặt mình vào truyền thống
tín ngưỡng nhân gian của dân ta, mà từ thời Tăng Hội trở đi đã trở
thành một bô phận không thể thiếu được trong toàn bộ tín ngưỡng Phật
giáo. Sự thực, Tăng Hội là người đầu tiên xướng thuyết cảm ứng.
Cao Tăng truyện quyển 1 tờ 325b9 trong khi mô tả việc cầu xá lỵ của Hội,
đã ghi câu nói của Hội rằng: "Phép thiên ứng xuống, nhưng chúng ta
không cảm thấy" - pháp linh ứng giáng nhi ngô đẳng vô cảm.
Như vậy, vấn đề không phải là
không có Phật hay không có những thị hiện của Ngài ở đời, bởi vì
"Ngài đâu phải là không thường ở với chúng sanh, đâu phải là
không thường thấy". Ta không thấy là vì không cảm thấy đó thôi.
Trong lá thư thứ sáu Pháp Minh đã đưa ra làm chứng cớ cho sự đúng đắn
của luận điểm ấy, mà chúng ta phân tích ở trên.
Ngoài chúng ra, không phải là chúng
ta không có những cớ khác. Tập thần châu tam bảo cảm thông lục quyển
thượng tờ 411a7-14 và 414b11-15 do Đạo Tuyên viết khoảng năm 664 đã ghi lại
ít nhất hai trường hợp. Về trường hợp đầu, nó viết: "Tấn nghĩa
Hưng năm thứ nhất (405), có người Lâm ấp thường có một viên Xá - lỵ,
mỗi khi đến ngày chay thì phóng tỏa sáng. Sa - môn Huệ Thúy theo thứ sử
Quảng Châu là Nhẫn Quỳ sống tại miền nam, vì kính mộ ánh sáng đó, ý
muốn thỉnh, nhưng chưa kịp nói ra thì viên Xá - lỵ đã phân làm hai. Quỳ
nghe nói, lòng vui vẻ, lại xin lưu để kính thờ, thì nó lại phân làm ba.
Quỳ muốn phỏng tượng chùa Trường Can, chủ chùa cố chấp không cho,
thì đêm ngũ mộng thấy một người cao vài trượng nói: "Tượng cốt
để tuyên truyền hướng dẫn thì sao lại bỏn sẻn đến thế". Hôm
sau, bèn báo, đồng ý cho Quỳ mô phỏng tượng. Khi phỏng tượng xong, Quỳ
đem Xá - lỵ gắn trên nhục kế của tượng. Các tượng từ Tây Trúc tới
có phóng ánh sáng, ấy vì phần lớn đều gắn Xá - lỵ".
Trường hợp thứ hai kể lại chuyện
một người đi mò ngọc trai thấy được ánh sáng nổi trên mặt biển.
Nó viết: "Đến năm Hàm An thứ nhất (371) người đi mò ngọc trai ở
Hợp phố của Giao Châu ở biển nam tên Đổng Tôn Chi, thường thấy đáy
biển có ánh sáng nổi lên tới trên mặt nước, tìm kiếm thì được ánh
sáng từ một tượng Phật bèn đem báo cáo lên trên. Vua Giản Văn cho kéo
tượng lên, lỗ huyệt đều giống, sắc sáng không khác ..."
Ngoài hai trường hợp đây, ta còn
có trường hợp của Huệ Đào và Đàm Hoằng, mà chúng tôi đã có dịp
bàn sơ.
Ta còn có cái báo cáo của Lưu Hân
Kỳ trong Giao Châu ký và bản tiểu sử của Đạo Thiền trong Tục Cao Tăng
truyện. Viết Giao Châu ký vào khoảng cuối thế kỷ thứ III đầu thế kỷ
thứ IV, Kỳ nói: "Mẹ đã chín con, ngồi cao 7 thước, nay ở trong chùa
của châu, chín con đều bám vào hình đá, tương truyền là trôi từ biển
vào, sĩ phu thứ dân cầu đảo xin có con trai, phần lớn đều hiệu nghiệm,
đến nay chưa dứt". Nhạc sử đã dẫn chuyện này dưới mục huyện
Long biên trong Thái bình hoàn vũ ký 170 tờ 7b10-8a2, xác nhận ngôi chùa đó
thuộc vào vùng Long Biên ấy, khoảng một thế kỷ sau, Đạo Thiền (457 -
527) đã đến trú ngụ trong chùa núi Tiên Châu, một nơi thường có "hổ
hại", và Thiền đã làm "tai ách ấy đi xa", như Tục Cao Tăng
truyện 21 tờ 607b117 đã ghi.
Như vậy, nêu lên thuyết cảm ứng
nhằm giải đáp vấn đề tại sao không thấy Phật do Lý Miễu đề ra, Đạo
Cao đã xuất phát từ xu thế tin tưởng chung của thời đại mình. Nhưng với
sự xuất hiện của câu hỏi tại sao không thấy Phật ấy, cơ sở lý luận
của xu thế tin tưởng vừa nói đã bị lay động mạnh mẽ trước sự
chuyển mình của một xu thế tư duy mang một màu sắc ít nhiều duy lý hơn,
trước sự trỗi dậy của một khả năng tự ý thức sâu xa. Thế thì, cơ
sở lý luận của xu thế tin tưởng đó là ?
Khi nêu lên câu hỏi tại sao không
thấy chân hình của Phật ở đời, Lý Miễu đương nhiên phải có một
quan niệm nào đó về Phật, nghĩa là Phật gì, mà có thể hiện ra cho đời
cho ta thấy. Cũng thế, khi Đạo Cao trả lời câu hỏi ấy với thuyết cảm
ứng của mình, thì ông tất phải có một số ý niệm về khả năng ứng
của Phật cũng như cách thức cảm của những người trần. Ấy vậy, mà
trong Sáu lá thư không một lần ta tìm thấu một định nghĩa rõ ràng về
Phật. Điều này giả thiết rằng cả Lý Miễu và Đạo Cao chắc chắn phải
có một quan niệm chung về Phật. Vào thế kỷ V, khi kinh điển Phật giáo
đã truyền tới Trung Quốc một cách tương đối đầy đủ, thì từ những
dịch phẩm cũng như những gì do các tác giả Trung Quốc viết ra, Phật đã
được quan niệm như sau.
Trong Giáo hóa bệnh kinh của Trung A
hàm kinh 6 tờ 459c24-27 do Sanghadeva dịch giữa những năm 397 - 398, Phật được
định nghĩa thế này: "Có dòng giống Thích mà bỏ họ hàng Thích, cạo
bỏ râu tóc, mặc áo Cà - sa, rất mực tin tưởng đến bỏ nhà cửa, mà
trở thành không nhà cửa để học đạo, đạt được sự giác ngộ đúng
đắn chính xác không gì hơn, thì gọi là Phật". Nguyên bản Phạn văn
của Giáo hóa bệnh kinh ngày nay hiện chưa tìm thấy. Bản tương đương
trong tạng Pali là Anathapindikavada - sutam của Trung bộ kinh lại không có một
nghĩa như vậy. Do đó, định nghĩa vừa dẫn có thể là một thêm thắt của
Sanghadeva hay những vị đã truyền đạt văn bản phạn văn của Trung A hàm
kinh. Dù với trường hợp nào đi nữa, nó rõ ràng thể hiện một cách
khá trọn vẹn và tương đối khá chính xác một quan niệm lịch sử cụ
thể về Phật, trong khi định nghĩa. Thực vậy, định nghĩa Phật là người
"có giòng giống Thích mà bỏ họ hàng Thích để cạo hết râu tóc, bỏ
nhà ra đi học đạo và thành vị giác ngộ đúng đắn chính xác không gì
hơn" thì quả đã tóm tắt một cách khá hoàn toàn và đại cương chính
lai lịch của vị khai sáng đạo Phật.
Xuất phát từ một quan niệm cụ
thể lịch sử về Phật như thế, các dịch phẩm Phật giáo ở Trung Quốc
cho đến giữa thế kỷ thứ năm đã coi Phật như một vị giác ngộ về sự
thật của mọi vật, như một vị "nhận thức tất cả". Kinh 299 của
tạp A hàm kinh 12 tờ 85b24-27 do Gunabhadra dịch giữa những năm 436 - 443 đã
viết: "Phật bảo một Tỷ - kheo; Pháp duyên khởi không phải do ta tạo
ra, cũng không phải do người khác tạo ra. Nhưng các Như Lai ra đời hay
chưa ra đời, pháp giới vẫn thường trú, vị Như Lai kia tự giác ngộ
được pháp đó thì trở thành giác ngộ một cách đúng đắn chính
xác". Quan niệm Phật như một người hiểu biết trọn vẹn về thực
tại khách quan này là một quan niệm hầu như phổ biến khắp các kinh điển
truyền dịch ở Trung Quốc.
Phẩm Thích tướng của Đại trí
độ luận quyển 90 tờ 549a24-25 nhân viết về hiện tượng không, hiện tượng
bát nhã v.v... cũng nói: "Có Phật hay không Phật, các hiện tượng đó
đều thường trú, Phật có thể biết tướng đó, nên gọi là Phật".
Nó xác định Phật như vậy thuần túy trên phương diện tri thức. Điều
này phản ảnh xu thế chung của những quan niệm về Phật trong các dịch
phẩm thực hiện ở Trung Quốc thời Đạo Cao và Pháp Minh. Phẩm Đạo hạnh
của Ma Ha Bát nhã ba - la - mật - đa kinh quyển 22 tờ 379a14-17 do Kumàrajĩva
dịch khoảng năm 408, trả lời câu hỏi của Phật là gì, đã viết:
"biết thật nghĩa của các pháp cho nên gọi là Phật, lại nữa, hiểu
được thật tướng của các pháp, cho nên gọi là Phật; lại nữa, thông
đạt được thật nghĩa, cho nên gọi là Phật". Rồi Trì phẩm của Đại
Minh độ kinh quyển 2 tờ 403c3-4 do Chí Khiêm dịch khoảng năm 222 - 257 cũng
viết: "Thiên trung thiên có giữ được trí tuệ vĩ đại, vì nhận
được sự nhận thức tất cả" - Thiên trung thiên hữu trì đại minh
giả, vị thọ nhất thiết trí hỉ.
Và những dịch phẩm đầu tiên của
Phật giáo Trung Quốc, mà quan trọng nhất trong chúng là của Chi Lâu Ca Sấm
(Lokaksema) đã mở đầu cho cái xu thế chung vừa thấy về quan niệm Phật.
Dịch Đạo hành Bát nhã kinh 1 tờ 426a23-24 khoảng năm 179, Lokaksema đã nêu
lên quan điểm là, vị Bồ tát "nếu không thực hành bát nhã ba la -mật
thì không được tát vân nhã". Tát vân nhã, dĩ nhiên, là một phiên
âm xưa xủa chữ sarsajnà, mà những nhà cựu dịch và tân dịch đã nhất
trí phiên thành nhất thiết trí "sự nhận thức tất cả". Như thế,
trung thành với truyền thuyết trí thức bát nhã Lokaksema đã truyền đạt
cho độc giả Phật giaó Trung Quốc một khái niện thuần túy trí thức về
Phật. Phật thể quan nay dần dà chiếm ưu thế trong giới tư tưởng Phật
giáo với sự du nhập và phiên dịch ngày càng nhiều những kinh điển thuộc
văn hệ Bát nhã, và hoàn toàn phù hợp với tư trào chung của thời đại
và huyền học thanh đàm, chú trọng khía cạnh tìm hiểu về lý lẽ xa vời
huyền diệu của trời đất, về bản chất thực sự của con người và sự
sống một cách triết lý.
Đương nhiên, song song với truyền
thống Phật thể quan chiếm ưu thế này, một số Phật thể quan khác đã
xuất hiện, nhưng tựu trung vẫn qui về Phật thể quan ấy, Chẳng hạn, Tôn
Xước trong Dụ đạo luận do Tăng Hựu chép ở Hoằng minh tập 3 tờ
17a7-10 dù chủ trương quan điểm "Chu Khổng tức Phât, Phật tức Chu Khổng"
vẫn tiếp tục định nghĩa Phật thế này: "Phật là tiếng Phạn, Tấn
dịch là giác, nghĩa của giác tức nói hiểu sự vật như Mạnh Kha cho thánh
nhân là bậc tiên giác, ý chỉ nó là một vậy" - Phật giả Phạn ngữ,
Tuấn huấn giác giả, giác chi vi nghĩ, ngộ vật chi vị, do Mạnh Kha dĩ thánh
nhân vi tiên giác kỳ chi nhất giả. Rõ ràng đối với Xước, dẫu Phật có
được đồng nhất với Chu Khổng đi nữa thì vẫn còn là một vị giác
ngộ về sự thật của mọi vật. Nói cách khác, Xước vẫn nằm trong truyền
thống Phật thể quan của thời đại mình và trung thành với truyền thống
đó để nhìn Phật như một bậc "nhận thức tất cả", một bậc
nhất thiết trí. Cho nên, khi gặp phải những yêu cầu của thực tế
khách quan bắt buộc phải đồng hóa Phật với Chu Khổng của nền văn hoá
Trung Quốc, thì quaan niệm Phật như một nhất thiết trí vẫn đóng một
vai trò chủ chốt và tức khắc được coi như đồng nhất với quan niệm
tiên giác của Nho gia. Xu thế định nghĩa Phật một cách cụ thể và lịch
sử mang tính chất tri thức luận này, như vậy, là một xu thế chủ yếu
và nổi bật của những tác phẩm Phật giáo viết và dịch ở Trung Quốc,
đại biểu trung thực cho quan niệm Phật của giới Phật giáo Trung Quốc
thời ấy.
Với một quan niệm Phật vừa dẫn,
dĩ nhiên vấn đề thấy chân hình Phật ờ đời không thể nào được đặt
ra. Bởi vì Phật vừa được quan niệm một cách lịch sử cụ thể như một
cá nhân thuộc một dòng họ nào đó, lại vừa mang một nội dung tri thức
luận, nghĩa là, Phật được hiểu như một người có khả năng nhận thức
hiểu biết được thực tại khách quan một cách chân thật. Phật do thế
không thể nào đòi hỏi phải hiện thân ở đời. Sự kiện Lý Miễu viết
thư hỏi Đạo cao về vấn đề sao không thấy chân hình Phật ở đời, từ
đấy, phải xuất phát từ một quan niệm khác về Phật, từ một xu thế
ý luận Phật giáo khác với xu thế chung của nền Phật giáo Trung Quốc từ
khởi nguyên cho đến lúc bấy giờ. Quan niệm khác ấy đương nhiên phải
bắt nguồn trong quá trình hình thành Phật giaó của dân tộc ta, như nó đã
phản ảnh trong những tác phẩm viết và dịch tại Việt Nam cho đến thời
của Lý Miễu và Đạo Cao. Trước hai người này, hai tác phẩm nổi bật
nhất đương nhiên là Mâu Tử lý hoặc luận của Mâu BÁc và Lục độ tập
kinh của Khương Tăng Hội. Những tác phẩm này đã bày tỏ một quan niệm
gì về Phật ? Mâu Tử, trong khi trả lời câu hỏi sao gọi là Phật và Phật
có ý nghĩa gì, đã viết trong Mâu Tử lý hoặc luận do Tăng Hựu chép lại
ở Hoằng minh tập 1 tờ 2a7-13: "Phật là thụy hiệu giống như gọi Thần
Tam Hoàng, Thánh Ngũ Đế vậy. Phật là nguyên tố của đạo đức, là mối
giềng của thần minh. Phật có nghĩa là giác ngộ, hoảng hốt biến hóa,
phân thân tán thể, hoặc còn hoặc mất, hay nhỏ hay lớn, hay ẩn hay hiện,
đạp lửa không cháy, đi dao không đứt, ở nhớp không dơ, trong rủi không
xui, muốn đi thì bay, ngồi thì phóng quang, nên gọi là Phật".
Đọc qua định nghĩa vừa dẫn, hiển
nhiên Phật không còn được quan niện như một nhân vật lịch sử thuộc
một giòng giống cụ thể nhất định, mang một số khả năng tri thức đáng
muốn. Phật không còn "có giòng giống Thích" mà trở thành
"nguyên tố của đạo đức và giềng mối của thần minh". Phật
không còn là một vị nhất thiết trí, một vị nhận thức tất cả trong
giới hạn của thực tại khách quan, một thực tại luôn luôn có mặt, dù
có Phật hay không có Phật. Trái lại, Phật là một vị có thể hoảng hốt
biến hóa, phân thân tán thể của mình, có thể lớn có thể nhỏ, có thể
già có thế trẻ, thậm chí có thể tròn hay có thể vuông, có thể còn hay
có thể mất, đi lửa thì không sợ cháy, đạp lên lưỡi dao thì không sợ
đứt. Định nghĩa Phật như vậy tức đã đưa Phật ra khỏi thế giới loài
người và quàng lên ngài bộ áo một vị thần linh, tước bỏ hết bản
chất con người của Ngài với tất cả những giới hạn của cuộc sống
con người, để trở thành một bậc có những khả năng siêu nhân, nếu
không nói là một bậc vạn năng.
Với định nghĩa ấy, quan niệm Phật
của Mâu Tử dứt khoát không thể xuất phát từ xu thế chung của quan niệm
Phật của nền Phật giáo trung Quốc, bởi vì chúng không có những điểm
gì tương đồng với nhau cả. Thang Dụng Đồng trước đây đã đồng hóa
quan niệm Phật của Mâu Tử với quan niệm Phật của Chí Khiêm, rồi dẫn
đến câu sau đây từ bản dịch Đại minh độ kinh 1 tờ 478a8-17 của Khiêm
làm bằng: "Thiện Nghiệp ngôn : Như Thế Tôn giaó, lạc thuyết bồ
tát minh độ vô cực, dục hành đại đạo đương tự thử thí. Phù thế
đạo vi bồ tát. diệc không hư giả (...) Ngô ư tư đạo, vô kiến vô đắc,
kỳ như bồ tát bất khả kiến, minh độ vô cực diệc bất khả kiến. Bỉ
bất khả kiến, hà hữu bồ tát đương thuyết minh độ vô cực. Nhược
như thị thuyết, bồ tát ý chí, bất di bất xả, bất kinh bất đản, bất
dĩ khủng thọ, bất bì bất tức, bất ác nạn. Thử vi diệu minh độ, dư
chi tương ưng, nhi dĩ phát hành, tắc thị khả vị tùy giáo giả dã".
Đọc qua đoạn văn vừa dẫn, mà chúng tôi không dịch nhằm cho người đọc
có thể trực tiếp tiếp xúc với nguyên bản và tự mình nhận ra những
hàm ý của nó, ta không thể nào tìm thấy một dấu vết gì cho phép khẳng
định "giải thích" của Mâu Tử về Phật giáo là có thể
"tìm thấy" trong Đại minh độ kinh của Chi Khiêm. Điều này tất
không có gì đáng ngạc nhiên lắm, bởi vì như đã thấy, quan niệm Phật
của KHiêm cũng nằm trong xu thế chung của quan niệm Phật của nền Phật
giáo Trung Quốc thời đó. Chỉ có điểm đáng ngạc nhiên là, Thang Dụng
Đồng lại đi đồng nhất quan niệm Phật của mâu Tử với quan niệm của
Khiêm, khi chúng không có liên hệ thực sự nào.
Không những liên kết đối với
Khiêm, Thang Dụng Đống còn móc nối quan niệm Phật của mâu Tử với quan
niệm "đại nhân" của Nguyễn Tịch (210 - 263) trong Đại nhân tiên
sanh truyện và cho chúng là "phù hợp với nhau". Theo Tịch thì
"đại nhân" là kẻ cùng tạo hóa đồng thể, cùng sinh với trời
đất, tiêu diêu thoát đời, cùng đạo đều thành, biến hóa tụ tán,
hình nó không thường, trời đất hạn chế mình vào trong, nhưng thần minh
mở vượt tới bên ngoài". dẫn định nghĩa đó của Tịch, dưới những
chữ "biến hóa tụ tán hình nó không thường", Đồng chua vào những
từ Mâu Tử dùng để định nghĩa Phật: "Hoảng hốt biến hóa, phân
thân tán thể, năng tiểu năng đại", nhằm cho thấy những gì MÂu TỬ
nói vể Phật và những gì Tịch viết là đại nhân, "lý thú chúng là
hợp nhau".
Trong một giới hạn nhất định nào
đó, sự phù hợp không phải không có. Điều quan trọng là, sự phù hợp
có mang một liên hệ tất yếu lịch sử và luận lý hay không, hay chỉ là
một sự phù hợp ngẫu nhiên, biểu hiện cho tính nhân loại và quốc tế
của một số tư tưởng loài người. Về điểm âý, như chính Đồng đã
mặc nhiên nhận ra, sự phù hợp vừa nói chỉ là ngẫu nhiên, bởi vì một
số phát biểu của Tịch đã có những tương tự với qua niệm logos của
Thiên Chúa giáo nguyên thủy, và đương nhiên không ai lại bảo giữa Tịch
và Thiên Chúa giáo nguyên thủy đã có những ánh hưởng hổ tương. Do thế,
một số chữ của Tịch có thể cắt nghĩa theo những mô tả Phật của
Mâu Tử, sự kiện ấy không nhất điểm chỉ Mâu Tử đã chịu một truyền
thống học thuật cùng với Tịch, chứ khoan nói chi tới việc chịu cùng một
quan niệm về Phật hay đại nhân. Rất có thể đã xảy ra một quá trình
"đao tập thiết thủ", và quan hệ giữa Tịch và Mâu Tử là thứ
quan hệ đó, không hơn không kém. Nói thẳng ra, có thể Tịch đã sao tập,
nếu không là "thiết thủ" quan niệm Phật của Mâu Tử để viết
nên định nghĩa đại nhân của mình.
Như vậy, trong khi ta rất khó mà
tìm được một tư liệu Phật giáo Trung Quốc nào có một định nghĩa về
Phật mang những nét giống với định nghĩa Phật của Mâu Tử, thì những
kinh điển dịch và viết xuất phát từ nước ta đã bàng bạc một quan niệm
kiểu Mâu Tử về Phật. Kinh 79 và kinh 81 trong Lục độ tập kinh 7 của
Khương Tăng Hội là những thí dụ điển hình. Kinh 19 Hội viết: "Đạt
được sự không lạnh không nóng, không đói không khát, công nghiệp và phước
đức hội tụ, mọi thư độc không thể gia hại, ở đời làm Phật, ba
cõi đặc biệt tôn trọng. Ở kinh 81, Hội càng nói rõ hơn: "Tôi sinh
phải thời đáng oán, không gặp đời Phật, không nghe kinh Phật, bậc thế
tôn chí tôn hiện tại ở mười phương thấy khắp nghe hết, đều biết tất
cả, hoảng hốt phảng phất, hào quang không đâu tới, nguyện hiện tôn
linh, khiến ta thấy Phật.
Qua hai mô tả vừa nêu, rõ ràng
quan niệm Phật của Khương Tăng Hội hầu như đồng nhất với quan niệm
của Mâu Tử, chỉ ngay trên phương diện ngôn từ thôi, chứ khoan nói tới
ý tứ. Phật đối với Hội cũng "hoảng hốt phảng phất", cũng có
hào quang "không đâu không tới", cũng "hiện tôn linh",
"mọi thứ độc không thể gia hại", "đạt được sư không lạnh
không nóng, không đói không khát". Đúng là Phật nếu không là
"nguyên tố của đạo đức", thì ít nhất với những đặc tính vừa
liệt, cũng phải là "tôn tự của thần minh", phải là một vị
có quyền năng biến hóa ẩn hiện, một khả năng vượt ra ngoài những giới
hạn sinh vật lý của thế giới loài người để thực hiện những trạng
thái sống và hoạt động không thể thực hiện được đối với những
con người thông thường.
Quan niệm Phật một cách tổng
quát với những khả năng như thế, cho nên mới dẫn đến vấn đề sao chân
hình Phật không hiện ra ở đời, sao ta lại không thấy PHật, mà Lý Miễu
đã nêu ra với Đạo Cao và Pháp Minh. Cần chú ý là, cả Mâu Tử và Khương
Tăng Hội lẫn Lý Miễu cùng Đạo Cao và Pháp Minh đều nói Phật một
cách tổng quát, chứ không nhắm đến một đức Phật nhất định nào. Đối
với họ, nếu đã là Phật thì phải hội tụ đủ một số những đặc tính
và khả năng như họ quan niệm, mà không cần phải phân biệt sự khác
nhau giữa các đức Phật. Điểm này ta cần chú ý, bởi vì vấn đề thấy
Phật không phải là không đạt ra trong xu thế quan niệm Phật một cách lịch
sử cụ thể và mang tính chất tri thức luận của nền Phật giáo Trung Quốc.
Nhưng nó đã đặt ra trong khung cảnh của một phân biệt giữa quan niệm lịch
sử cụ thể về Phật Thích Ca, và quan niệm có vẻ siêu hình đối với các
đức Phật khác như Phật A Di Đà hay Di Lặc mà các truyền thống chưa bao
giờ minh nhiên xác định là hiện hữu một cách lịch sử cụ thể kiểu
Phật Thích Ca.
Kể từ ngày tín ngưỡng các đức
Phật Di Đà và Di Lặc truyền vào Trung Quốc, vấn đề thấy các đức Phật
ấy đã trở thành một chủ đề bàn cãi khá sôi nổi. Về tín ngưỡng Phật
Di Đà chẳng hạn, kinh Ban chu tam muội ĐTK 417 tờ 899a10-14 mà các kinh luật
và các ấn bản nhất trí cho là do Lokaksema dịch tại Lạc Dương vào năm
179, đã viết: "Nếu có Tỷ - kheo, Tỷ - kheo - ni, Ưu - bà - tắc, Ưu -
bà - di, như phép đó hành trì ..., qua bảy ngày rồi, sau đó thấy Phật A
- Di - Đà, giống như chỗ thấy của người trong mộng ..." . Viết thế,
kinh Ban chu tam muội tự nó gây nên nhiều thắc mắc rất khó giải quyết,
đến nỗi cuối thế kỷ thứ IV đầu thế kỷ thứ V Huệ Viễn (334 - 417)
đã phải viết thư hỏi Kumarajìva (Cưu Ma La Thập). Trong Đại thừa đại
nghĩa chương quyển trung tờ 134b4-135a11, Viễn đã viết: "Niệm Phật
tam muội, trong chương niệm Phật của kinh Ban chu nói, phần nhiều dẫn mộng
làm thí dụ. Mộng là cảnh của phàm phu ... Nếu Phật là giống với chỗ
thấy mộng, thì nó là cái tướng được chiêm tưởng của tướng ta chuyên
chú thì thành định, định thì thấy Phật, đức Phật được thấy không
từ ngoài đến, ta cũng không đi, chỉ là chuyện chú tưởng tượng mà lý
hội ... Phải chăng là đức Phật ở trong định ? Phải chăng là đức Phật
từ ngoài đến ? Nêú là đức Phật trong định, ấy là do ta tưởng tượng
mà dựng nên, rốt cục lại trở về ta. Nếu là đức Phật từ ngoài định,
ấy là vị thánh nhân ngoài giấc mộng, thì không được đem mộng ra để
chứng minh. Niệm Phật tam muội; pháp pháp lại như vậy ư ?"
Trước những câu hỏi đó "Cưu
Ma La Thập phải phân loại và đánh giá phương pháp niệm Phật: "Tam
muội thấy Phật có ba thứ. Một là, vị bồ - tát hoặc có được mắt
trời, tai trời, hoặc hay đến chỗ Phật mười phương, thấy Phật gặng
hỏi, cắt hết mọi lưới ngờ. Hai là, tuy không có thần thông, thường
tu niệm các đức Phật hiện tại như Phật A - Di - Đà v.v..., lòng ở một
nơi thì được, thấy Phật xin hỏi chỗ ngờ. Ba là, học tập niệm Phật,
hoặc đã ly dục, hoặc thấy tượng Phật. hoặc thấy sanh thân, hoặc thấy
các đức Phật quá khứ, vị lai, hiện tại. Đó là ba thứ định, đều gọi
là niệm Phật tam muội, nhưng sự thật chúng không giống nhau. Thứ cao là
có được thần thông thấy Phật ở mười phương, số còn lại đều là
thấp". Sau khi phân loại đánh giá như vậy. Cưu Ma La Thập tiếp theo xác
định phương pháp niệm Phật tam muội là có thể giúp người ta thấy Phật,
và đức Phật ấy hiện hữu một cách khách quan "tại phương tây trải
qua mười vạn cõi Phật". Do vậy, vì sợ "người thông tin, mà
không thực hành phương pháp thiền định ấy, nghĩa rằng chưa được thần
thông thì làm sao ở xa mà thấy Phật được, nên Phật mới đem mộng làm
thí dụ".
Cốt tủy câu trả lời của Cưu Ma
La Thập là thế đối với câu hỏi thấy Phật có phải như nằm mộng không
của Huệ Viễn. Rõ ràng vấn đề thấy Phật ở đây đặt ra và giải quyết
đúng theo xu thế quan niệm của nền Phật giáo Trung Quốc, mà ta đã mô tả
trên. Nó không liên hệ với đức Phật cụ thể lịch sử Thích Ca Nâu Ni,
trái lại có một liên hệ mật thiết với các đức Phật huyền sử kiểu
Di Đà và Di Lặc. Và những Phật tử Trung Quốc chủ yếu chỉ đòi thấy
các đức Phật này mà thôi. Đồng thời với Huệ Viễn, Vương Mật (360 -
407) cũng đã viết thư hỏi Cưu Ma La Thập về việc "sao không thấy Di
Lặc và cả nghìn đức Phật", Toàn văn lá thư ngày nay đã mất nhưng
cái đầu đề "Vấn bất kiến thiên Phật" được Trừng ghi lại
trong Pháp luận và Tăng Hựu sao vào Xuất tam tạng ký tập 12 tờ 83c29,
bày tỏ một phần nào nội dung vấn đề Vương Mật muốn nêu ra. Từ những
dự kiến ấy, yêu cầu thấy các đức Phật huyền sử là một xu thế
chung của Phật giáo Trung Quốc thời đại ấy.
Đối với đức Phật lịch sử cụ
thể Thích Ca Mâu Ni, vấn đề ấy ta chưa thấy đề ra. Ngay cả những khả
năng biến hóa, những "oai thần", cũng chỉ được quan niệm trong
liên hệ với chân pháp thân của Phật thôi. Trong lá thư gửi cho Cưu Ma La
Thập ở Đại thừa đại nghĩa chương quyển thượng tờ 125b22-c4 Huệ Viễn
nêu lên câu hỏi các hình tượng do các nhà sư đúc vẽ đẽo gọt có tả
hết được thân tướng của Phật không. Trong lời đáp cũng ở quyển
thượng tờ 125c5-126b2 Cưu Ma La Thập nói: "Thân Phật Thích Ca Mâu Ni
có thể cùng một lúc ở một vạn quốc độ, đều làm việc Phật, có đủ
thứ tên gọi, có đủ thứ xác thân, để giáo hóa chúng sinh". Cho
nên, "như kinh Mật Tích nói: "Thân Phật ứng hiện không phân biệt
địa phương, chúng sinh trong một hội, có người thấy thân PHật màu
vàng, có người thấy màu bạc, hoặc có loại màu xa cừ, mã não v.v..., hoặc
có chúng sinh thấy thân Phật không khác con người, hoặc có người thấy
thân Ngài một trượng sáu, hoặc thấy ba trượng, hoặc thấy hình ngàn vạn
trượng, hoặc thấy như núi Tu - di v.v... hoặc thấy vô lượng vô số biến
thân. Đó là thần lực của pháp thân không gì là không có thể". Vì
thế, thân Phật không phải là không thể quan niệm theo hình ảnh con người
và biểu tượng theo quan niệm ấy. Và chúng sanh "không có thể thấy
đủ thân Phật, vì công đức chưa đầy đủ", như Cưu Ma La Thập đã
viết ở một lá thư khác cũng trong Đại thừa đại nghĩa chương quyển
thượng tờ 129b26-28. Nói tắt, đối với đức Phật lịch sử cụ thể không
có vần đề thấy, càng không có vần đề hiện ra. Có thấy và có hiện
ra chăng, ấy là Phật thân hay pháp thân của Phật, nghĩa là, giảm trừ đức
Phật cụ thể lịch sử thành một đức Phật huyền sử. Cho nên, ngay khi
đề cập tới vần đề thấy Phật hay vấn đề Phật hiện ra, những người
Phật tử Trung Quốc vẫn bị giới hạn trong xu thế chung của quan niệm Phật
một cách lịch sử cụ thể mang tính chất tri thức luận. Thực ra, họ
không phải không có một số ý niệm nào đó về một đức Phật thần thông
biến hóa đâu. Nhưng số ý niệm ấy không chiếm một ưu thế lý luận tư
tưởng và tín ngưỡng để trở thành chi phối toàn bộ tư tưởng Phật gíao
Trung Quốc.
Trong lá thư thứ bảy viết cho Cưu
Ma La Thập ở Đại thừa đại nghĩa chương quyển trung tờ 129c18-130a6 Huệ
Viễn đã nêu lên vấn đề "pháp thân cảm ứng", xác định rõ
ràng là có thần thông mới có cảm ứng, bởi vì "thần thông đã rộng
thì tùy cảm ứng". Nhưng tiếp theo, Viễn đã không nói thẳng ra là đức
Phật có thần thông không. Trái lại, ộng vẫn rơi vào quĩ đạo của quan
niệm Phật mang tính chất tri thức luận. Ông viết: "Cho nên kinh nói
đức Như Lai có các thông huệ. Thông huệ tức là biến nhất thiết trí.
Ấy là mỗi một nhóm của muôn dòng, là chỗ ra của mây lành pháp
thân". Có lẽ thấy Viễn mắc nghẹn vào xu thế quan niệm Phật chung của
Phật giáo Trung Quốc, Cưu Ma La Thập có khơi ra ý niệm một đức Phật thần
thông. Ông viết trong lá thư đáp cũng ở Đại thừa đại nghĩa chương
quyển trung tờ 130b2-3: "Thiền định là cỗi gốc của thần thông, Phật
biến hóa các thứ thân ở khắp các nước mười phương để làm các việc
Phật". Ý niệm đức Phật thần thông này, đến giữa thế kỷ V,
chưa trở thành ý niệm chủ đạo của nền tín ngưỡng Phật giáo Trung Quốc,
như cái định nghĩa thông huệ vừa nêu của Huệ Viễn là một điểm chỉ.
Trong khi đó, ở nước ta ý niệm
đức Phật thần thông ấy đã nâng lên hàng một quan niệm để định
nghĩa và mô tả về Phật, và quan niệm này đã xuất hiện rất sớm trong
lịch sử Phật giáo du nhập tại Viễn đông. Đối với cả Mâu Tử lẫn
Khương Tăng Hội, Phật phải là bậc có những quyền năng "có thể
còn, có thể mất, có thể già, có thể trả, có thể ẩn, có thể hiện,
không bị nóng, không bị lạnh, không đói khát, biến hóa không chừng, hoảng
hốt phảng phất". Đúng là Phật thì phải là một vị Phật thần
thông biến hóa. Quan niệm Phật này hoàn tòan phù hợp với những truyền
thuyết dân gian của dân ta về đức Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và
Pháp Điện, mà Lĩnh Nam trích quái cùng bài thơ cổ phong của Lý Tử TẤn
trong Kiến văn tiểu lục 9 tờ 14b5-15b9 đã ghi lại. Chỉ với một quan niệm
về Phật đầy quyền năng biến hóa như vậy, vấn đề tại sao Phật không
hiện ra và sao không thấy Phật mới được nêu lên. Nhưng thấy bằng cách
nào ?
Mâu Tử không nói rõ phương pháp
ta có thể thực hiện thấy Phật. Song Khương Tăng Hội thì nói rất rõ,
rõ từng bước. Trong An ban thủ ý kinh tự ở Xuất tam tạng ký tập 6 tờ
43b7-13, Hội viết: "người được hạnh an ban thì lòng liền sáng,
đưa mắt nhìn xem, không chỗ tối gì mà không thấy, việc từ vô kiếp đến
nay, hiện tại các cõi, trong đó có đức Thế Tôn giảng pháp, đệ tử tụng
tập, không nơi xa nào không thấy, không một tiếng nào là không nghe, hoảng
hốt phảng phất, tự do còn mất, lớn trùm tám phương, nhỏ lọt mảy lông,
chế phục trời đất, diên trì mạng sống, thần đức rợn rùng, binh trời
bại hoại, thế giới chấn động, các cõi đổi dời, có tâm chẳng nghĩ
nghì, Phạm thiên chẳng lường nổi, thần đức không giới hạn. Ấy là
đều do sáu hạnh mà ra". Vậy thì, theo Hội, để có những khả năng
nghe xa trông ngái, còn mất tự do, để thấy Phật hiện đang giảng pháp
ta chỉ cần thực hành sáu hạnh của phương pháp an ban (ànàpànasati).
Hạnh thứ nhất là "buộc ý
vào hơi thở, đếm 1 đến 10 không sai. thì ý định tại đó, định nhỏ
ba ngày, định lớn 7 ngày, vắng lặng không có quan niệm nào khác, nhạt
nhẽo như người chết, gọi là nhất thiền". Hạnh thứ hai là
"chuyển niện vào tùy ... ý định tại tùy là do đếm, bụi dơ tiêu hết,
lòng dần trong sạch, gọi là nhị thiền". Hạnh thứ ba là "dồn
ý vào đầu mũi, thì gọi là chỉ ... hành thiền dừng ý, treo nó vào đầu
mũi, đó gọi là tam thiền". Hạnh thứ tư là "trở về xem lại
thân mình từ đầu đến chân, xem đi xét lại chi li dơ bẩn trong thân tiết
ra, lông lá mọc đầy, như thấy nước mắt nóng hổi, rõ soi đầy đủ với
chúng thì trời đất người vật, thịnh cũng như suy, không gì tồn tại
mà không hủy mất, tin Phật Tam bảo, mọi tối đều rõ, ấy gọi là tứ
thiền". Hạnh thứ năm là "buộc tâm về niệm, các ấm đều diệt,
ấy gọi là hoàn. Hạnh thứ sáu là "uế dục lặng hết, lòng mình
không tưởng ấy gọi là tịnh". Đấy là sáu hạnh, hay cũng gọi là
"sáu cửa nhiệm mầu" tức sáu tiến trình của phương pháp an ban
thủ ý mà An Thế Cao truyền dịch vào Trung Quốc và Khương Tăng Hội giới
thiệu và giải thích. Người nào thực hành nó theo sáu tiến trình ấy
thì đạt "được hạnh an ban" và có những khả năng phi thường mô
tả ở trên.
Phương pháp đây với sáu tiến
trình của nó, mặc dù được Hội giới thiệu và giải thích nhưng về
sau vẫn xảy ra truyền thuyết cho rằng chính Hội là người thừa kế và
quảng bá tư tưởng và phương pháp thiền của An Thế Cao, như Cao Tăng
truyện 1 tờ 324a17-18 ghi lại. Trong lời mở đầu cho chương Thiền độ vô
cựu của Lục độ tập kinh là nhằm "chính tâm, nhất ý, tập hợp mọi
lành duy trong tâm, ý thức các xấu bẩn, để đe, điều lành mà tiêu trừ".
Và tiến trình nó gồm có bốn nấc, chứ không phải kiểu sáu nấc của
phương pháp an ban.
Việc làm của nấc thiền thứ nhất
là khử bỏ tham ái, năm yêu tà sự, như mắt thấy sắc đẹp, tâm sinh
dâm cuồng, khử bỏ thanh hương vị xúc đối với tai mũi lưỡi thân. Người
có chí hành đạo tất phải xa lánh chúng. Lại có năm ngăn che (phải khử
bỏ): tham tài, giận dữ, mê ngủ, dâm lạc và nghi ngờ hối hận. Đối với
những vấn đề như có đạo hay không có đạo, có Phật hay không có Phật,
có kinh hay không có kinh, khi tâm y thức niệm đã trong sạch không bụi bặm,
tâm sáng thấy được chân lý thì đạt đến sự không gì là không biết,
mà trời rồng quỷ yêu không thể đánh lừa được. Giống như người có
mười kẻ thù lánh mình thoát khỏi, một mình ở trong núi chẳng hay biết,
thì không còn sợ nữa. Người xa lánh tình dục, nội tâm tịch tịnh. Đó
gọi là thiền thứ nhất".
"Nấc thiền thứ hai giống như
người trốn tránh oán thù tuy ở núi sâu, còn sợ kẻ thù tìm thấy, càng
tự trốn sâu. Người hành thiền, tuy đã xa mười thứ dục tình, còn sợ
giặc dục ấy tìm theo phá hoại chí đạo của mình. Được thiền thứ
hai thì tình dục xa dần, không còn thể làm dơ mình được.Ở nấc thiền
thứ nhất thì thiện ác tranh nhau, đem thiện để trừ ác, ác lui thì thiện
tiến. Ở nấc thiền thứ hai, lòng vui lặng dừng, không còn đem thiện để
diệt ác đã dứt tuyệt, không còn nhân duyên nào bên ngoài xâm nhập vào
nữa. Giống như núi cao trên đỉnh có con suối, không còn khe nào chảy
vào, cũng không do rồng mưa, nước từ đó chảy ra, nước sạch suối đầy.
Điều thiện đã từ trong tâm ra thì các điều ác không còn do mắt tai mũi
miệng mà vào được. Chế ngự tâm như vậy mà hướng đến thiền thứ
ba".
"Nấc thiền thứ ba gồm giữ tâm
ý kiên cố, thiện và ác không thể xâm nhập. Tâm yên vững như núi Tu Di.
bên trong các thiện không phát xuất, bên ngoài thiện, ác và tịch diệt
không xâm nhập. Tâm giống như hoa sen, gốc lành ở dưới nước, khi hoa búp
chưa nở thì bị nước phủ lấp. Người thực hành thiền thứ ba thanh tịnh
như hoa, xa lìa mọi ác, thân tâm an ổn. Chế ngự tâm như vậy mà hướng
đến thiền thứ tư".
"Bỏ hết thiện ác, tâm không
nhớ thiện cũng không nhớ ác, trong tâm sang sáng như ngọc lưu ly ... Bồ tát
tâm tịnh, đạt thiền thứ tư, thì muốn làm gì cũng được, bay lượn trên
không, đạp nước mà đi, phân thân tán thể, biến hóa muôn cách, vào ra
không ngại, còn mất tự do, rờ mó trời trăng, chấn động trời đất,
thấy thông nghe suốt, không gì là không thấy nghe, tâm tịnh quán minh, được
nhất thiết trí (biết) chúng sanh thay đổi lúc chưa có trời đất, tâm người
trong mười phương hiện tại đang nghĩ những việc chưa manh nha ...Hễ được
thiền thứ bốn, muốn được sự sáng sủa của đức Phật Như Lai chính
nhân bình đẳng giác ngộ chính xác không gì hơn, cầu nó thì liền được..."
Phương pháp bốn thiền của Lục
độ tập kinh như vậy cũng đạt được những kết quả giống như
phương pháp an ban với sáu tiến trình. Việc Hội đề tựa và viết chú
thích cho An ban thủ ý kinh chắc hẳn nhằm giải thích phương pháp thiền của
An Thế Cao cho những Phật tử Trung Quốc, mà cho đến thời Hội đã chịu
ảnh hưởng nặng nề của phương pháp thiền đó. Nói khác đi, mặc dù
truyền thuyết Trung Quốc xuất hiện khá sớm khoảng năm 290 cho Hội là người
thừa kế và quảng bá thiền kinh của An Thế Cao, nhưng ta có thể nói Hội
đã có một truyền thống tư tưởng và phương pháp thiền khác với An Thế
Cao. Thế thì, dẫu với phương pháp nào đi nữa, kết quả tu thiền vẫn là
một. Đó là đạt được một số những quyền năng phi thường, mà quan
trọng nhất dĩ nhiên là quyền năng ấy hoàn toàn đồng nhất với những
từ Mâu Tử cũng như Khương Tăng Hội dùng để định nghĩa Phật.
Như thế, trong quan niệm của nền
Phật giáo Mâu Tử Khương Tăng Hội, những người thực hành Phật giáo
không những có thể thấy Phật ở chính ngay cuộc đời hiện tại này. Hội
đã đề lên một phương pháp và một phương án thực tiễn và chi tiết
nhằm hiện thực quan niệm đó. Xuất phát chính từ cơ sở lý luận về
Phật và một phương pháp nhằm thực hiện Phật kiểu ấy, ta bây giờ mới
thấy tại sao Lý Miễu đã nêu lên câu hỏi không thấy chân hình Phật ở
đời. Cơ sở lý luận trên cho biết Phật là gì, và phương pháp thiền Khương
Tăng Hội hứa hẹn ta sự thành công của việc hiện thực quan niệm Phật
đó bây giờ và ở đây. Nhưng kể từ khi Hội chết đi vào năm 280, trải
qua hơn cả 150 năm chưa thấy có một thành công nào cả, thì đương nhiên
các Phật tử như Lý Miễu tất phải nêu lên vấn đề. Phải chăng quan niệm
Phật do Mâu Tử Khương Tăng Hội thiết định là sai lầm ? Phải chăng
phương pháp nhằm thực hiện Phật là vô hiệu quả ?
Những câu hỏi này Lý Miễu đã đề
ra, và Đạo Cao cùng Pháp Minh đã tìm câu giải đáp bằng cách nhắc đến
thuyết cảm ứng cũng do Khương Tăng Hội dựng nên. Dù có giải đáp gì
chăng nữa, thì chúng cũng đã bắt đầu khơi dậy cả một quá trình dẫn
cuối cùng đến sự sụp đổ và biến thân của nền Phật giáo do Mâu Tử
và Khương Tăng Hội làm đại biểu, và tạo cơ hội cho sự ra đời của
một quan niệm Phật giáo mới với dòng thiền Pháp vân của Tì Ni Đa Lưu
Chi và Pháp Hiền. Chúng đánh dấu một sự mất tin tưởng vào quan niệm cũng
như phương pháp giáo tôn về Phật không còn có thể đảm trách đáp ứng
những yêu cầu của thời đại nữa. Thực vậy, đến giữa thế kỷ thứ
V khi Quân thiện luận của Huệ Lâm đã gióng lên tiếng chuông dồn dã
báo hiệu một sự tra hỏi duy lý vào toàn bộ tư tưởng và nếp sống Phật
giáo, thì làm sao một quan niệm quyền năng và một phương pháp nhằm thực
hiện quyền năng về Phật có thể đảm trách nhiệm vụ lịch sử của
mình được ?
Quan niệm quyền năng và phương pháp
quyền năng ấy vào cuối thế kỷ II đầu thế kỷ III, khi nền văn hóa Lạc
Việt đang bị giẫy dụa trước những tấn công điên cuồng và man rợ của
nền văn hóa xâm lược Trung Quốc, thì có thể đề xuất, một mặt nhằm
tiếp thu những di sản tư tưởng và nhận thức do nền văn hóa Lạc Việt
truyền thụ, và mặt khác, nhằm chống đối lại hữu hiệu những cuộc tấn
công vũ bảo đó. Dân tộc ta, sau cuộc bại trận của Hai Bà Trưng và những
cuộc khởi nghĩa tiếp theo, đang bàng hoàng gượng mình đứng dậy đi tìm
những sức mạnh mới, những sức mạnh có tính chất phi thường để chống
đỡ trong cuộc đấu tranh cam go và gian khổ cùng một lúc đối với hai kẻ
thù, đó là kẻ thù thiên nhiên và kẻ thù xâm lược. Quan niệm và phương
pháp quyền năng về Phật của Mâu Tử và Khương Tăng Hội là một thể
hiện sức mạnh ước mơ đó. Phật phải là một vị có mọi khả năng
phi thường, có mọi quyền năng vô địch, có thể chấn động trời đất,
có thể chuyển đi mọi quốc độ, có thể làm rùng rợn cả quỉ thần.
Tin vào Phật là tin vao một sức mạnh như vậy, là tham dự và chia phần với
nó, lấy lại cho mình một phần nào sức mạnh đã bị kẻ địch thiên
nhiên cũng như xâm lược, tước đoạt.
Nhưng với đà tiến của lịch sử,
qua kinh nghiệm những cuộc đấu tranh chống kẻ thù thiên nhiên và xâm lược
của mình, dân tộc ta đã dần dần nhận ra những sức mạnh phi thường và
quyền năng ấy chính là sức mạnh của mình. Chính là sức mạnh của
mình bị tha hóa vào một đối tượng ngoài bản thân mình, thực sự đánh
dấu một sự chuyển mình rất vĩ đại của quá trình tự ý thức về sức
mạnh, biến sức mạnh tự mình thành một sức mạnh cho mình. Đây là nội
dung cốt tủy của ý thức mới làm cơ sở cho cuộc vận động độc lập
và xưng đế của Lý Bôn sau này.
Từ một sức mạnh chưa được ý
thức là một sức mạnh của tự mình, dân ta kinh qua những cuộc đấu
tranh gay go và đa dạng, đã nhận ra sức mạnh ấy là của mình và cho
mình, để sử dụng cho việc khẳng định sự độc lập của dân tộc. Kể
từ khi Khương Tăng Hội chết vào năm 280, nhiều cuộc khởi nghĩa liên tục
nổ ra, khẳng định dần dần khả năng chiến đấu và ý thức về mình
và cho mình của dân tộc. Ý thức và khả năng ấy đã trưởng thành đến
đầu thế kỷ thứ V và trở thành một thực tại kết tinh lại trong những
con người lãnh tụ kháng chiến như Lý Bôn, Lý Dịch và đặc biệt là hai
chú cháu Lý Trường Nhân và Lý Thúc Hiến. Họ ý thức rõ rệt về sức mạnh
và quyền năng của chính mình. Từ một sức mạnh và quyền năng tự mình,
họ đã biến chúng thành sức mạnh và quyền năng cho mình, cho dân tộc
mình để xử dụng chúng nhằm xây dựng và bảo vệ một tổ quốc, một
cuộc sống tươi đẹp hơn. Cho nên, nếu quan niệm Phật của Mâu Tử và
Khương Tăng hội biểu hiện một ước mơ về sức mạnh và quyền năng,
thì vào thế kỷ V, ước mơ ấy đã trở thành một hiện thực lịch sử.
Do đó, tra hỏi về việc tại sao
chân hình Phật lại không hiện ra đời tức tra hỏi về hiện thực lịch
sử của sức mạnh và quyền năng ấy, tra hỏi về vai trò và vị trí nó
trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Mặt khác, vì ước mơ đã trở
thành hiện thực, nên tra hỏi về ước mơ tức biểu hiện một sự nghi
ngờ về tính thực của ước mơ, về sự không cần thiết của ước mơ
nữa. Khi ước mơ trở thành hiện thực thì cũng chính là lúc tự nó hủy
mình để thành hiện thực. Khi đức Phật ước mơ của sức mạnh và quyền
năng đã trở thành một hiện thực lịch sử sức mạnh và quyền năng, thì
ta hỏi về đức Phật ấy là một biểu lộ một cáo chung của đức Phật
ước mơ ấy.
Vậy thì, không nói chi tới những
diện khác, chỉ xét trên diện giải thích, ý nghĩa lịch sử của quan niệm
Phật giáo Mâu Tử và Khương Tăng Hội, ta thấy quan niệm ấy vào giữa thề
kỷ V bắt đầu mất dần ý nghĩa. Nó đã đóng xong vai trò lịch sử của
nó.
Nói thế, đương nhiên phải giả
thiết nó đã xuất sinh trong một hoàn cảnh lịch sử kinh tế chính trị
nhất định, nhằm đáp lại một số yêu cầu nhất định của hoàn cảnh
lịch sử ấy, chứ không thể nào quan niện nó một cách thoát ly không có
một liên hệ gì với thực tiễn. Cũng chính vì xuất sinh trong một hoàn cảnh
kinh tế chính trị nhất định, cho nên tới một giai đoạn nào đó, khi
quá trình phát triển lịch sử đang bước qua những khúc quanh, nó bắt buộc
phải chấm dứt vai trò lịch sử của mình.
Mà đúng thế. Sau cuộc xưng đế của
Lý Bôn và sự ra đời của dòng thiền Pháp vân của Tì NI Đa Lưu Chi và
Pháp Hiền, thì ta không bao giờ thấy nêu lên câu hỏi thấy Phật nữa. Đức
Phật tự mình của giai đoạn Phật giáo M@¢u Tử Khương Tăng Hội đã trở
thành đức Phật cho mình của giai đoạn Phật giáo Pháp vân. Vấn đề do
thế nằm ở chỗ thực hiện đức Phật đó cho mình, chứ không còn tra hỏi
đòi thấy. Cũng thế, sức mạnh và quyền năng tự mình bây giờ đã biến
thành sức mạnh và quyền năng cho mình. Vì vậy, làm sao để vận dụng sức
mạnh và quyền năng ấy trong công cuộc giải phóng và bảo vệ dân tộc,
chứ không còn ở trong quá trình đi tìm sức mạnh quyền năng ấy. Các vị
sư dòng thiền Pháp vân đã thể hiện rõ rệt xu thế ấy của thời đại.
Họ đã thực hiện đức Phật của họ với những câu sấm vĩ vận động
giải phóng dân tộc. Sấm vĩ là một công cụ để vận động và sử dụng
sức mạnh cùng quyền năng cho mình đó.
Ấy chỉ là nhìn theo diện giải
thích lịch sử. Nếu đứng trên lập trường nghiên cứu lý luận, quan niệm
Phật theo Mâu Tử và Khương Tăng Hội tất phải dẫn đến những mâu thuẫn
giữa quan niệm ấy v