SỐNG THỜI ÐẠI VÀ TINH THẦN ÐỨC PHẬT
Bùi Mộng Hùng
---o0o---
Nam nhi tự hữu xung thiên khí
Hưu hướng Như Lai hành xứ hành.
(Làm trai chí khí xông trời thẳm
Thôi đi, bỏ lối học đòi Như Lai)
Thiền
sư Việt Nam Quảng Nghiêm (1121-1190)
Chính
vào những giai đoạn xáo trộn như hiện nay, con người phân vân trước cuộc
sống bao nhiêu thì nhu cầu xét lại gốc rễ nguồn căn làm cơ sở cho hành vi
ứng xử của mình, của xã hội lại càng bức thiết bấy nhiêu. Phật giáo làmột
trong số không nhiều lắm truyền thống đã làm gốc rễ văn hóa cho nảy nở
nhiều nền văn minh của một bộ phận rộng lớn nhân loại. Trong chính lúc dân
tộc Việt Nam ta bước vào một giai đoạn quyết định cho vận mạng của mình,
xét lại một yếu tố căn bản của truyền thống dân tộc như Phật giáo trước
thách thức của thời đại là một việc không tránh né được.
Bài này (I) phác hoạ nét trội
của cuộc khủng hoảng văn hóa thời đại, (II) xét vài điểm đặc trưng của
giáo lý nhà Phật đặc biệt thích nghi với những xu hướng đòi hỏi của thời
đại. Và cuối cùng (III) nêu lên vài điểm căn bản cho Phật giáo khai triển
trí tuệ và tri thức tính lũy suốt hai nghìn năm, góp phần vào công cuộc
xây dựng một nền văn hóa cho hiện đại.
I. Thời đại
con người trơ vơ thân phận làm người.
Các hệ tri thức, xưa nay vững tin rằng mình nắm chân lý, truyền bá niềm tin của mình tự bao đời. Và cũng tự bao đời đã là những ngọn đuốc soi đường cho con người hết thế hệ này đến thế hệ khác trông theo mà an tâm sống với mình, với người, với thiên nhiên.
Những niềm tin ấy bấy lâu nay
tưởng đâu là chân lý vĩnh hằng, đến khi vấp vào hiện đại bỗng nhiên lung
lay đến tận gốc rễ, nếu không hoàn toàn sụp đổ.
Khởi điểm không phải mới gần
đây. Những dấu hiệu đầu tiên xuất hiện từ thời đại Phục hưng, thế kỷ thứ
XV, XVI, đưa dần tới sự hình thành của khoa học, của tư duy ngày nay.
Có người cho rằng là phát minh
này hay phát minh nọ làm cho khoa học mâu thuẫn với các hệ tôn giáo, với
tư tưởng cổ truyền. Không hẳn như vậy. Vì lẽ rằng không một phát minh khoa
học nào có khả năng giải đáp các câu hỏi căn bản của tôn giáo nêu lên, mà
ngược lại tín ngưỡng có thể tiếp thu chẳng mấy gì khó khăn bất cứ phát
minh khoa học nào vào trong hệ tư tưởng của mình.
Sự xung khắc cơ bản thật ra nằm
trong tinh thần nghi ngờ có hệ thống, không tin theo một thuyết nào nếu nó
chưa trải qua thẩm định của thực nghiệm. Theo tinh thầnthực nghiệm này thì
không có giáo lý nào, hệ tư tưởng nào nắm chân lý vĩnh hằng. Chúng chỉ có
giá trị của những giả thuyết, nghĩa là giá trị còn khi chúng còn vận hành
còn biểu thị được các hiện tượng, các dữ kiện theo tiến trình mà giả
thuyết đề ra. Gặp trường hợp ngược lại, một khi đã không phù hợp nổi với
dự kiện đã được quan sát nghiêm túc và có phương pháp thì chính giả thuyết
phải tự đặt lại vấn đề và chuyển đổi sao cho phù hợp được với dự kiện.
Quan điểm đổi thay vì suốt
nhiều thế kỷ vừa qua, các xã hội loài người không ngừng chuyển biến mạnh.
Ðến gốc rễ. Ðảo lộn cả nhận thức. Các vấn đề thời đại không ngớt nổi lên,
vấn nạn tri thức con người. Riêng cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ thứ 19
cũng đã đủ thay đổi hoàn toàn bộ mặt hoàn cầu. Truyền thống bao lâu tin
rằng chính là tri thức, đạo lý soi sáng và điều khiển hoạt động của con
người. Nhưng hiện thực đã chẳng giản đơn một chiều theo lối nhìn đó, vì
thế mà làm lung lay cơ sở các niềm tin truyền thống : Tư duy và đạo lý
hướng dẫn hoạt động của con người thật, nhưng ngược lại hoạt động sản xuất
chính là một nhân tố quy định tư duy, đạo lý trong xã hội loài người.
Từ địa vị đứng trên cao siêu mà
hướng dẫn, đạo lý rơi xuống ngang tầm với con người, giữa xã hội. Các giá
trị “chân”, “thiện”, “mỹ” không còn được quy định do uy tín của một Chân
lý bên ngoài, một cá nhân vĩ đại nào, mà thực ra bởi xã hội, như một tổng
thể trong vận động không ngừng chuyển biến của nó.
Dù muốn dù không, con người
buộc phải tìm quy tắc hướng dẫn đời sống của mình không đâu ngoài cộng
đồng con người, ngoài xã hội.
Trong chiều hướng đó, nhà tư
tưởng lớn thế kỷ thứ 19 Hegel quay lại nhìn lịch sử như một giòng tiến
hóa. Ý nghĩa của sự tiến triển, của vận động lịch sử chỉ sẽ biểu lộ tại
nơi điểm tận cùng của lịch sử.
Marx tiếp nối theo, tin rằng
đấu tranh giai cấp là động cơ của dòng lịch sử ấy và cho đó là một phát
hiện căn bản của mình tìm ra. Con người làm ra lịch sử, và có khả năng gia
tốc lịch sử bằng cách tác động theo chiều hướng của động cơ. Cách nhìn của
Marx là một yếu tố gây niềm hy vọng lớn cho một phần nhân loại : Lịch sử
có ý nghĩa và sẽ tất nhiên đi đến điểm tận cùng của nó. Hành động trong
hướng đi của lịch sử là hành động vô cùng ý nghĩa của những con người ý
thức được sự thật lịch sử.
Rồi, trong vòng mấy tha765p
kỷ của thế kỷ 20 này, con người bừng mắt phát hiện ra rằng những tiến
trình dó chính mình phát động gần như không giới hạn vào thế giới thiên
nhiên, vào thế giới con người : Làm chủ được nguyên tử lực, con người có
thừa năng lực làm nổ tung quả địa cầu. Ðồng thời khi nhận ra chân diện mạo
của các chế độ toàn trị kiểu nazi, loài người kinh sợ mà ý thức rằng dù
có tiền đề có giả tạo giối trá vô nhân đến đâu đi nữa, khi mà có những thế
lực quyết tâm áp đặt các tiền đề đó thì khả năng thể hiện ý đồ thành công
là có thực. Miễn là cái thế lực ấy biết chủ trương hành động có hệ thống
một cách liên tục. Thế kỷ 20 này đã được chứng kiến về các tiến trình đi
vào hiện thực của những mẫu xã hội toàn trị nazi và những mô hình ít nhiều
nhiều toàn trị khác.
Uy lực tác động của con người
vào thế giới loài người, vào thế giơi thiên nhiên chưa bao giờ đạt mức độ
khủng khiếp như hiện nay.
Trong khi đó, khoa học càng
hiểu thiên nhiên thêm sâu sắc bao nhiêu thì con người lại càng ý thức rõ
rệt rằng giải pháp khoa học chỉ là đáp từ cho những câu hỏi của chính
mình đặt ra và những giải đáp đó lệ thuộc vào cách đặt câu hỏi. Ði tìm
hiểu thiên nhiên- không phải là mình mà cũng chẳng phải do mình tạo ra-
rốt cuộc con người gặp lại những cấu trúc, những mô hình do mình tạo nên,
nghĩa là gặp lại chính mình. Và cũng bắt đầu nhận ra rằng không thể giáo
điều tin vào tính bất định của khoa học mà không xét kỹ độ chính xác trong
mỗi trường hợp cá biệt. Khoa học dự đoán khí tượng đã nghiêm túc chứng
minh rằng bướm vỗ cánh ở Bắc Kinh hôm nay có thể gây giông tố ở Nữu Ước
tháng sau. Các sự kiện gần đây lại càng cho thấm thía tất định lịch sử
thật ra chẳng nghiêm ngặt gì hơn chuyện nắng mưa.
Tất định lịch sử không còn, tự
do của cá nhân bỗng nới rộng ra thêm. Mỗi người có thể tự nhủ rằng cánh
bướm mình vỗ lên có khả năng lái lịch sử chệch qua hướng khác. Nhưng khi
ấy chợt nổi lên, không giải đáp,câu hỏi ý nghĩa hướng đi lịch sử là gì ?
Dù muốn dù không, một lúc nào
đó trong đời sống, con người thời đại cũng bị thực tại xô đẩy, buộc quay
về đối diện với thân phận làm người của mình. Và lúc ấy rùng mình nhận ra
rằng, về căn bản, cung cách ứng xử của mìng chẳng mấy khác người thời
trung cổ. Bạo tàn man rợ khác nào khi xưa.
Chỉ có điều khác là con người
thời đại nắm trong tay những phương tiện sinh sát tày Thượng đế. Ðem các
phương tiện ấy ra sử dụng lại có phương pháp tổ chức theo kiểu đại công
nghiệp- máy móc lạnh lùng-nhưng vô cùng hữu hiệu.
Trong khắc khoải tự vấn trước
mênh mang cuộc sống, con người thời đại thấy mình nhỏ bé, chẳng khác gì
con người thời trung cổ. Nhưng, quay đi quay lại với chính mình. Không nơi
nương tựa, thiếu ngọn đuốc soi đường mà người trung cổ sẵn có, chỉ việc
tuân theo.
I. Con đường Như Lai.
1. Một
giáo lý nhân bản, một quan điểm “động” trong nhận định
Ðối tượng của lời Phật dạy
không ai khác là con người, trần trụi với thân phận làm người. Câu hỏi
trung tâm của giáo lý nhà Phật là một vấn nạn thẳng thừng không chút nhân
nhượng : “Con người kia anh là gì ?”
Ðối với câu hỏi ấy, con người
không khỏi cũng có lúc trầm ngâm trước dòng sông, nước luân lưu chảy để
ngậm ngùi rằng ta đứng đấy mà mọi việc trước mắt biến chuyển không ngừng.
Ðiều mà ai ai cũng nhận ra dễ dàng. Nhưng thường không suy xét xa hơn, và,
nếu có thì cũng ngừng ở nhận định : ta nhìn, ta tư duy vậy ta hiện hữu (je
pense, donc je suis).
Cách nhìn theo đức Phật không
phủ nhận tính hiện hữu của “cái ta”, trong phút giây quan sát giòng sông.
Chỉ nhắc nhở rằng, nếu không ngừng nước chảy qua cầu thì chẳng khác chi
dòng nước, người đứng trên cầu ngắm dòng sông cũng bao ý niệm nổi lên,
trôi đi, dư âm vang vọng, tâm tư không ngừng chuyển đổi...
Nhà Phật quan niệm dòng sông,
người đứng ngắm là những nhân tố ứng tác qua lại với nhau trong một quan
hệ động. Một tiến trình trong đó các ứng tác không ngừng miên man chuyển
biến. Thuật ngữ nhà Phật gọi đó là “vô ngã”, “vạn pháp vô ngã” mọi sự việc
đều vô ngã. Và dùng thuật ngữ “không” để chỉ bản tính không ngừng biến
chuyển của sự vật, “vạn pháp giai không”. Ðem cái nghĩa thông thường của
từ “không” gán cho thuật ngữ đồng âm làm sai lạc ý nghĩa quan điểm nhà
Phật. Hiện thực luôn luôn biến động, nhưng nào phải vì vậy mà hư không !
Cảm nhận trung thực từng giây
từng phút tiến trình của các quan hệ không ngừng chuyển đổi, tiếp theo đó
mà liên tục đáp ứng, hồn nhiên, hài hòa, không bị lăng kính ảo tưởng làm
cho méo mó lệch lạc, đó là một đặc tính của Phật. Và vì thế Phật còn có
danh hiệu là Như Lai.
Tiến trình biến chuyển của sự
việc, Phật giáo quan niệm là không do ngẫu nhiên. Nó có nguyên nhân và
điều kiện. Nguyên nhân như hạt giống, nảy nở ra được hay bị thui chột đi
còn tùy ảnh hưởng điều biến của những điều kiện kèm theo. Thuật ngữ gọi đó
là “nhân duyên”.
2. Một
giáo lý cho hành động, nơi đây và ngay bây giờ.
Là một nhân tố ứng tác có ý
thức, con người trong giây phút hiện thực là một điểm động cuốn theo dòng
thác tiến trình mà khởi điểm bắt đầu khi nào chẳng rõ, bao giờ tới điểm
tận cùng cũng chẳng hay. Lặn hụp trong giòng đời, dù cho thu mình với thái
độ thụ động hay tích cực xông xáo, con người bề gì cũng ý thức tiếp thu
ảnh hưởng cùng tác động vào tiến trình cuộc sống, nghĩa là hành động, là
gieo nhân, tạo nên duyên.
Nói cho đúng, ý thức của con
người có ban cho hắn được chút phần tự do. Trong chọn lựa hành động và
khởi điểm của nó. Nhưng trong một tiến trình, khi đã phát động rồi, hành
động tác động vào mội trường như thế nào, phản hồi lại ra sao phần lớn
vượt ngoài ý chí của con người cá nhân. Con người ấy, trong giây phút hiện
thực là một điểm động, là hệ quả của hành động bản thân, của tác động môi
trường bao quanh, của các thế hệ sanh trước. Ngược lại, với hành động do
mình khởi xướng, cá nhân ấy cũng tác động vào thế giới này, vào thế hệ mai
sau...
Thuật ngữ “nghiệp” của nhà Phật
dùng để chỉ tác động và hệ quả của hành động ý thức của con người. Con
người cá nhân tạo ra “biệt nghiệp” riêng của chính mình, nhưng cũng tác
động vào và chịu ảnh hưởng “cộng nghiệp” chung của xã hội loài người. Khái
niệm “nghiệp” đặt vai trò và vị trí của mỗi cá nhân trong vũ trụ trong
giòng tiến hóa của sinh vật, trong nhân loại hôm qua, ngày nay và mai sau.
Qua hành động- mà không ai tránh né được-cái “nghiệp” ràng buộc theo quy
luật nhân duyên mỗi cá nhân với toàn thể loài người, toàn thể sinh vật. Từ
mối liên đới đó, hệ giáo lý Bắc tông khai triển ra khái niệm”bồ tát
nguyện” : còn sinh vật trôi nổi trong vòng khổ đau thì bồ tát nguyện theo
nâng đỡ. Vì nghĩ cho cùng, liên đới nhân duyên ràng buộc với nhau, làm sao
có thể quan niệm một mình một chốn niết bàn thảnh thơi được.
Con người là ứng tác có ý thức
trong tiến trình không ngừng chuyển biến, hành động của hắn nếu mà liên
tục hài hòa được với cuộc sống chỉ có thể là hành động thích ứng nơi đây
và ngay bây giờ, nghĩa là một sáng tạo không ngừng.
Chính vì vậy mà giáo lý Phật
giáo không thể không là lý thuyết, phương pháp, kỹ thuật cho hành động và
hành động trong cuộc sống nơi đây, ngay bây giờ.
Căn cứ vào hành động, vào
“nghiệp”, đạo Phật đưa con người từ tối tăm trật vuột nắm bắt ảo ảnh-
thuật ngữ gọi là “vô minh”- đến trí tuệ hòa hợp hồn nhiên con người vào
tiến trình cuộc sống, vào vũ trụ. Chính vì vậy mà cho rằng đạo Phật yếm
thế, trốn đời là lầm to.
3. Một
con đường giải phóng trí tuệ soi sáng hành động.
Chính vì có ý thức mà con người
khó hồn nhiên ứng tác hòa hợp theo nhịp biến đổi của tiến trình cuộc sống.
Lúc thì phản ứng bất cập, khi thì lại thái quá. Hoặc để cho sức trì kéo
của cái khối kinh nghiệm đã qua giết chết cái sáng tạo cần thiết cho sự
thích nghi với hiện tại, bản thân là một trạng thái luôn luôn mới lạ. Hoặc
đưa tất cả tâm trí phóng ảo tưởng đến tương lai nghĩa là vào một cái chưa
có, để rồi dập mặt dập mũi vào cái hiện tại không sao tránh né được.
Nhà thơ than:
Yêu là chết
trong lòng một ít
Cho thì
nhiều nhưng chẳng nhận bao nhiêu...
Yêu nhau thắm thiết, niềm vui
lớn. Nhưng chính vì yêu mà kẻ cho, người nhận, cả hai người yêu nhau không
bao giờ được hoàn toàn vừa lòng. Nhà Phật không phủ nhận những niềm vui
trong cuộc sống, chỉ nhắc nhở đến cái vui, quan hệ trong tiến trình cuộc
sống của các ứng tác có ý thức luôn luôn vấp vào những điều làm cho họ
chẳng bao giờ được hoàn toàn mãn nguyện. Thuật ngữ nhàPhật gọi những khổ
đau, những tiềm lực làm cho con người bất mãn trong cuộc sống là “khổ”. Ðó
là một nhận định duy thực.
Nhận định thế, để khẳng định
ngay rằng có con đường vượt “khổ”, đem lại an lành. Con đường bỏ rơi ảo
tưởng, hài hòa quan hệ ứng tác của con người trong tiến trình không ngừng
biến động của cuộc sống. Ðó là “đạo”mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã bản
thân thể nghiệm. Và cũng khẳng định rằng đã là người. Thì không phân biệt
trai gái, sang hèn màu da, sắc tộc bất cứ ai ai cũng đều tiềm tàng đầy đủ
khả năng của đức Phật, con người đã trọn vẹn thể hiện “đạo ấy”.
Phật chỉ nhắn nhủ mỗi người
chúng ta chính mình thể nghiệm. Không một ai có thể làm thay mình được,
đức Phật cũng chỉ là người chỉ đường.
Mỗi cá nhân là một trường hợp
duy nhất, con đường cũng phải thích nghi với tính duy nhất của mỗi người.
Nhà Phật hằng hà phương tiện.
Nguyên tắc chung, chúng ta gặp
ngay trong câu Phật tử thường chúc nhau “thân tâm an lạc”. Phương pháp nhà
Phật chú trọng cả thể xác lẫn tâm thần, đến tác động qua lại vòng tròn của
chúng. Thân an lặng thì lòng cũng yên, tâm yên tĩnh thì thân thêm thư dãn
thoải mái. Cứ thế mà thân tâm liên tục ảnh hưởng lẫn nhau đưa đến trạng
thái tĩnh lặng, thuận lợi để quán xét, ý thức tinh tường những gì đã xảy
ra trong mình, xung quanh mình. Chính sự ý thức rõ rệt những gò bó trong
thân xác, những thể thức dục vọng nổi lên rồi tan đi trong thâm tâm là cơ
sở để chủ động thư dãn toàn thân, để dục vọng không bị đè nến mà nhạt thưa
dần. Lửa lụi tàn vì củi không còn. Cứ thế mà các nhân tố tạo thiên kiến,
thành kiến rơi rụng. Mâu thuẫn tan dần, tự do nội tâm phát triển. Thân và
tâm ung dung tự tại sẵn sàng tập trung vào hiện tượng bên trong, bên
ngoài, để tiếp nhận và phản ứng hồn nhiên, thích nghi, không lệch lạc,
thái quá hay bất cập.
Khi ảo tưởng hoàn toàn rơi rụng
hết, sự thích ứng lúc ấy hài hòa với tiến trình cuộc sống. Một trạng thái
siêu việt các cặp đối lập ta-người, chủ-khách, tri thức- hành động ,thiện,
ác, luân hồi-niết bàn...thời gian trong đó là hiện tại vĩnh hằng.
Ðó là ý nghĩa lời Long Thọ bồ
tát (150 ?-250 ?) khẳng định “Niết bàn là luân hồi, luân hồi là niết bàn”
(Nagarjuna, Madhyamika-Karika, XXV<19). Ðó là lý do nhà Nho thấm nhuần
tinh thần Thiền tông Vương Dương Minh (1472-1529) xướng thuyết “tri hành
hợp nhất”.
Chỉ có bậc hoàn toàn giác ngộ
mới hợp nhất được tri và hành, siêu việt được đối lập biết và làm. Nhưng,
cuộc sống luôn luôn đặt chúng ta trước một chọn lựa để hành động. Thế nào
cho phải, đó là vấn đề. Giáo lý nhà Phật đề nghị các phương thức giúp mỗi
người chúng ta sáng suốt nhận thức và hành động.Mấy câu kinh Pháp Cú tất
nhiều người thuộc nằm lòng nhắc nhở điều ấy :
Chư ác mạng tác
Chư thiện phụng hành
Thanh tịnh kỳ ý
Thị chư Phật ngôn
(Không làm điều ác, Làm mọi
việc lành, Thanh tịnh tâm ý, Ấy lời chư Phật)
Phân biệt phải quấy, đạo Phật
không đặt nơi một uy quyền ngoài con người. Lúc chọn lựa hành động bao giờ
chẳng chỉ có mình với mình. Cái “lương tri” do tâm ý thanh tịnh trong sáng
là bảo đảm duy nhất cho tính đúng đắn của chọn lựa ấy.Tất cả giáo lý nhà
Phật, lý thuyết, và thực hành chỉ nhằm cho tâm ý người hành đạo tĩnh lặng
trong sáng trong sóng gió bão lửa của cuộc sống.
Con người thời đại đã đạt tri
thức vô cùng cao xa, nhưng lương tri không tương xứng. Tạo một “lương tri
khác” là tiềm năng quý báu mà giáo lý nhà Phật có khả năng đóng góp vào
công cuộc xây dựng nền văn hóa một thời đại khắc khoải đi tìm lương tri
cho chính mình. Với vốn liếng Phật giáo tích lũy trên hai mươi thế kỷ tri
thức lý thuyết và thực hành.
II. Chí khí ngất trời xanh.
1. Xác
định chức năng.
Sức sống của một giáo lý tùy
thuộc những người đang sống và thể hiện nó. Phật giáo phát huy được tiềm
năng của mình khi nào những người đang sống lời Phật dạy xác định được
chức năng xã hội của giáo lý mình thể hiện.
Trên căn bản giáo lý nhà Phật
không có gì đối chọi với tinh thần khoa học. Nhưng Phật giáo không phải là
khoa học. Chức năng khác, cách chứng thực cũng khác. Sự thực khoa học
chứng qua thực nghiệm. Hoàn toàn khác nhau từ tinh thần, lý thuyết, đến
thực hiện với thể nghiệm “đạo”.
Sự thực thể nghiệm là một sự
thực chủ quan, bản chất khác với sự thựckhoa học.
Khoa học thay đổi bộ mặt toàn
cầu. Tuy nhiên, trong hiện trạng ngày nay khoa học không thể và cũng không
có tham vọng đề nghị một cái nhìn tổng hợp toàn diện cuộc sống.
Giáo lý nhà Phật đề nhị một
nhận thức tổng thể cuộc sống, là một triết học. Chính vì không phải là
khoa học : đem lại ý nghĩa cho hoạt động thường ngày, cho cuộc sống mỗi
con người .
Có triết lý của mình, nhưng
khác với các hệ triết học nhà Phật còn một kho kinh nghiệm phong phú về
phương thức, kỹ thuật sử dụng những động tác thân xác đơn giản, hô hấp,
đi, đứng, nằm, ngồi... Ðể thể hiện triết lý của mình trong thân xác, trong
cuộc sống hàng ngày, trong mỗi người. Ðề nghị một hành trình thể hiện chứ
không thể duy nhất là một hệ tư tưởng thuần lý, một bộ phận giáo lý nhà
Phật có những nét hấp dẫn với tinh thần thời đại.
Là một tôn giáo, có đầy đủ nghi
lễ, nhưng người Phật tử không phải đặt lòng tin vào một uy lực cao siêu
nào ngoài con người, ngoài bản thân mình.
Có biết mình, biết người, cộng
đồng Phật tử mới bỏ rơi được mặc cảm tự ti và tự tôn, không hao tổn tâm
thần năng lực vào những cuộc tranh biệt sân si, xácđịnh vị trí và chức
năng của giáo lý nhà Phật so với khoa học, các tôn giáo khác. Khi ấy mới
an nhiên đem tinh thần Như Lai thể hiện ra nếp sống hằng ngày, trong muôn
mặt của cuộc sống. Và góp phần vào công cuộc chuyển hóa nền văn hóa thời
đại.
2. Sống
thời đại.
Muốn được vậy phải đau cái đau
thời đại, khổ cái khổ thời đại, dằn vặt với các vấn đề thời đại. Tóm lại
phải sống thời đại.
Truyền thống hai mươi lăm thế
kỷ của đạo Phật là một ốc đảo để ẩn náu, an tâm cho những ai mệt mỏi,
khiếp sợ trước các chấn động của thời đại đang oằn oại chuyển tiếp. Cái
nguy lớn của Phật giáo chính là ở đó mặt quay về quá khứ, day lưng với
thời đại, mãn nguyện với việc làm ẩn náu cho những người trốn sống thời
đại. Và chỉ có thế thôi, ngoài ra không còn chi khác.
Nay chính là lúc cần chí khí
ngất trời xanh của những người đem đạo vào trong đời trong những thời điểm
khác thường. Khi tinh thần Phật thấm nhuần vào Trung Quốc, nở ra Thiền
tông, các tổ như ngài Lâm Tế (?-867?) nói đạo bằng những câu chữ hàng ngày
của người nông dân cho người thời đại bừng mắt nhận ra đâu là tinh thần
Như Lai. Khi văn hóa đất Việt hưng lên với một dân tộc độc lập, đời Lý
thiền sư Quảng Nghiêm (1121-1190) nhắn nghủ “Nam nhi tự hữu xung thiên
khí, Hưu hướng Như Lai hành xứ hành” (Làm trai chí khí xông trời thẳm,
Thôi đi, bỏ lối học đòi Như Lai). Ðời Trần, ta gặp thần thái thanh thoát
ấy nơi Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung (1230-1291), thầy của tổ sáng lập ra
phái thiền Việt Nam Trúc Lâm, Ðiều Ngự giác hoàng Trần Nhân Tông
(1258-1308). Trong một bữa tiệc của thái hậu mà cũng là em ruột thượng sĩ
tiếp đãi, Tuệ Trung gặp thịt cứ ăn. Thái hậu lấy làm lạ hỏi : “anh tu
thiền mà ăn thịt thành Phật sao được ? “ Thượng sĩ cười đáp : “Phật là
Phật, anh là anh. Anh chả cần làm Phật, Phật chả cần làm anh”.
Thời Phật, thời tổ, thời
Lý-Trần đã qua, và không bao giờ trở lại, thời đại là của bây giờ. Tinh
thần đức Phật chỉ có giá trị qua cọ sát với thực tại. Có lăn vào giải
quyết những vấn đề cụ thể đang đặt ra cho con người, mới nảy ra cái nhìn
“Như lai” sự việc hôm nay. Mới bật ra lời lẽ đi vào con tim người đang mò
mẫn tìm đường. Phải thông giáo lý nhà Phật, đã đành. Công trình xuất bản
kinh tạng Pali dịch qua tiếng Việt của hoà thượng Minh Châu, dự án dịch và
xuất bản hệ tam tạng Sanskrit của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một bước
tiến cho ai ai cũng có thể tiếp cận những tư liệu gốc một cách trực tiếp.
Nhưng, có soi qua gương mặt người mới nhận rõ ra mặt mình, có đem tư tưởng
nhiều ít sáo mòn đọ với các luồng tư tưởng hiện hành mới sáng lên sức sống
của tư tưởng Phật, nơi đây và ngay bây giờ.
-Công cuộc bỏ ngỏ.
Thời nào cũng phải thích nghi
phương pháp tu dưỡng cho thời đại mình. Không biết tự bao giờ Phật tử Việt
Nam chào nhau bằng câu “A Di Ðà Phật”. Chỉ biết chắc chắn rằng chẳng phải
do ngẫu nhiên. Có gì khắc khoải cho con người bằng khi phải đối mặt với
thân phận làm người. Cái ý phải tin vào sức mình, không ai, kể cả đức Phật
có thể làm thay cho được tiềm tàng trong lời Phật dạy. Nhưng cũng ý đó bắt
con người phải đối diện với chính mình. Tịnh độ tông khéo léo tránh né
điểm khó này bằng thuyết “tha lực”, nhờ sức của người khác, nhờ Phật A Di
Ðà dẫn vào đất an lành.
Phương tiện phần nào dễ dãi ấy
có còn thích nghi với tinh thần nghi ngờ thành hệ thống của con người ngày
nay chăng ? Dù muốn dù không, vấn đề phương cách “hành đạo” cho con người
hiện đại cũng đặt ra.
Những phương tiện hay nhất
thường tìm thấy được ngay trong đời sống hàng ngày, trong nghề nghiệp.
Người võ sĩ Nhật Samourai, kè kè lưỡi kiếm, theo nghề chém giết. Phật giáo
nhập sâu vào văn hóa thì người Samuorai học và thể hiện Thiền không đâu
ngoài đường kiếm. Khi đó người ấy đi vào giữa lằn đao, mưa đạn với cái an
nhiên của kẻ siêu việt cái sống và cái chết, lưỡi kiếm uy lực như sấm
sét...
Phương pháp hành đạo ngày nay
là những gì ? Ðể cho con người tất bật của thời đại thể hiện được tinh
thần Như Lai, hồn nhiên mà thích nghi vào tiến trình cuộc sống ?
Những tầm nhìn thanh thoát về
các vấn đề thời đại đang đặt ra, một nghệ thuật sống an lành đi vào muôn
mặt của cuộc sống thường này, những phương pháp tu dưỡng thích nghi với
mọi lớp người trong xã hội hiện đại, đó là cách thức mà thực tại đặt ra
cho trí tuệ cộng đồng Phật tử. Giả đáp chính là phần Phật giáo góp vào nền
văn hóa thời đại.
Bùi Mộng Hùng
(9.1995)
---o0o---