PHẬT GIÁO VÀ CỘNG ÐỒNG PHẬT TỬ Ở NƯỚC NGOÀI
Bùi Minh
---o0o---
Hiện
nay, trên khắp các châu của địa cầu, Á, Âu, Mỹ, Phi, Úc, chỉ trừ châu Nam
cực, ở đâu cũng có đồng bào Việt Nam chúng ta sinh sống. Số đồng bào đó có
khoảng 2,3 triệu người, tức là cứ khoảng 100 người Việt, thì có đến 3 hay
4 người sống ở nước ngoài. Họ sống nhiều nhất ở các nước, mà về mặt tôn
giáo, tôn giáo chính là Thiên Chúa giáo, dù rằng đó là Chính Thống giáo,
hay Công giáo, Tin Lành, hoặc Anh Quốc giáo. Một số ít hơn thuộc ảnh hưởng
Phật giáo. Một số ít nữa thuộc ảnh hưởng Ấn Ðộ giáo hay Hồi giáo.
Nói đến cộng đồng
người Việt ở nước ngoài thì đề tài rộng rãi quá, bao la quá, cho nên ở đây
chúng ta đưa ra một số giới hạn.
Giới hạn thứ nhất
là chúng tôi không nói đến số người Việt chỉ ở nước ngoài trong một thời
gian ngắn, hoặc vì lý do du lịch, hoặc lý do học vấn, hay nghề nghiệp, để
rồi có ngày về sống ở quê hương. Chúng tôi chỉ nói đến người Việt chọn
nước định cư làm quê hương thứ hai.
Trừ một số ít
người còn thì đa số đồng bào ta mới đến nước ngoài sau này. Họ gặp biết
bao nhiêu điều mới lạ. Khiến họ hoang mang, ngỡ ngàng. Họ đã chứng kiến,
phải đương đầu, phải thích nghi với bao điều không hề gặp ở nước nhà : Ở
Việt Nam có bao giờ họ thấy tuyết rơi, có bao giờ họ thấy cái lạnh dưới 0
độ, hay cái nóng gay gắt ở miền xích đạo. Bên cạnh đó sự khác biệt đó về
thiên nhiên, còn có sự khác biệt về xã hội : từ tổ chức hành chánh, đến
văn hoá phong tục. Ở bên nhà đâu có cảnh trai gái ôm hôn nhau ở ngoài
đường ? đâu có cảnh trai gái sống với nhau không hôn thú ? Ðâu có cảnh,
cha mẹ sống cô độc trong tuổi già, không có con cháu bên cạnh, sớm thăm,
tối viếng, trái với truyền thống của dân tộc : “Trẻ cậy cha, già cậy con”
? Ðối với người Phật tử, lại còn thêm một sự mất mát lớn : Không còn được
nghe sáng, chiều, tiếng chuông chùa trầm hùng như nâng mình lên cảnh siêu
thoát.
Trên kia, chúng
ta chỉ kể qua một số ít điều khác biệt, một số ít điều mất mát. Nhưng
trong đời sống thực tế hàng ngày, chúng ta còn gặp biết bao điều khác biệt
khác nữa, còn thấy mất mát đi biết bao điều thân thiết khác nữa ?
Tất cả những khác
biệt đó, những mất mát đó, đối với một số người, cơ chừng không vượt qua
nổi, rồi đâm ra thất vọng , thở than:
“ Phương tây nào
phải tây phương,
Tưởng cực lạc
hoá ra cực nhục”
Cố luật sư Vũ
Văn Huyền đã có lần tâm sự : “Con cái tôi có hiếu, tôi không phải gặp
nghịch cảnh gia đình, nhưng đời sống ở đây (ở Pháp) không thích hợp với
tôi.” Là một luật sư nổi tiếng, là một người được đào tạo trong văn hóa
Pháp, cố luật sư còn thấy khó khăn, huống chi bao người khác.
Tất nhiên là
đời sống ở nước ngoài không phải chỉ có toàn chướng ngại, mà còn rất nhiều
thuận lợi. Nhưng ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến những điều khó khăn, trở
ngại mà đồng bào chúng ta gặp phải. Ðó là hạn chế thứ nhì.
Hạn chế thứ ba là
trong đại cộng đồng người Việt ở nước ngoài, bên cạnh những người không
tôn giáo, còn có những người có tôn giáo như Thiên Chúa giáo, Hòa Hảo, Cao
Ðài, Phật giáo thì ở đây chúng tôi chỉ nói đến cộng đồng Phật tử. Và trong
cái cộng đồng Phật tử này chỉ nói đến cộng đồng Phật tử tại Pháp, vì lẽ
chúng tôi tương đối hiểu biết cộng đồng này hơn, dù rằng những vấn đề mà
Phật tử Pháp gặp phải, và giải pháp để đối phó, có lẽ cũng là những giải
pháp tương tự.
Vấn đề mà chúng
tôi mạn phép đưa ra ở đây là : Phật giáo giúp đỡ gì cho sự hội nhập của
những người Phật tử.
Trong số những
vấn đề mà cộng đồng người Việt, và cách riêng cộng đồng Phật tử ở nước
ngoài còn gặp phải, có hai loại :
Một loại chỉ
thuộc riêng cho người nước ngoài, loại nữa, là những vấn đề không phải chỉ
riêng người nước ngoài gặp phải, mà nó còn là những vấn đề của dân bản
địa.
Trước tiên chúng
tôi trình bày những vấn đề, mà chỉ riêng cộng đồng người Việt ở nước
ngoài, trong đó có cộng đồng Phật tử gặp phải.
Vấn đề nổi cộm,
đập trước mắt, là tự cảm thấy xa lạ, bơ vơ, lạc lõng, mất sở thủ, mất
phương hướng, không còn lòng tự tin trong một môi trường xa lạ, dù không
nhất thiết là thù nghịch.
Ðứng trước tình
huống đó, chúng ta có ba thái độ khác nhau : hoặc tẩy chay bằng cách tự cô
lập, Kiều Bá Di, Thúc Tề tẩy chay nhà Chu ? Hoặc ra sức đồng hóa hoàn toàn
với người dân bản địa, từ cách ăn mặc, đến cách suy nghĩ, “không thèm nói
tiếng Việt, không thèm học tiếng Việt” với tồn tại nếp suy nghĩ, “nôm na
là cha mách qué”, để mà đổi tên, đổi họ, nhuộm tóc cho vàng, sửa mũi cho
cao, để rồi bảo rằng: “Tổ tiên chúng ta là người Gô Loa”.
Hai giải pháp
đó có thể thực hiện được không ?
Giải pháp thứ
nhất chỉ dẫn đến chỗ tự sát.
Giải pháp thứ
nhì cũng thất bại. Cộng đồng người Việt sẽ loại bỏ và khinh miệt chúng ta,
cùng lắm là thương một kẻ lạc lối mất gốc. Cộng đồng người Pháp cũng không
thừa nhận chúng ta là một phần tử chính thống của họ, giống như cơ thể
không chịu nhận một sự xâm nhập lạ vào đó. Chúng ta trở thành một con dơi,
phi cầm, phi thú.
Thế thì, theo
chúng tôi, chúng ta chỉ còn giải pháp thứ ba : Vừa hội nhập vào đời sống
nước Pháp, vừa giữ được bản sắc của mình để chống lại nghịch cảnh, nói như
Ðức Không Tử : Chúng ta “ hoà mà đồng”. Chúng ta chọn giải pháp trung đạo
này trong hai giải pháp cực đoan trên kia, là tẩy chay và đồng hóa.
Mà muốn giữ bản
sắc của mình, chúng ta phải hội đủ ít nhất hai điều kiện : Ðiều kiện tiên
quyết là phải có bản sắc, điều kiện thứ nhì là tự tin, tự hào rằng bản sắc
đó là tốt đẹp.
Vậy thì người
Phật tử có bản sắc không ? Hay nói cách khác, Phật giáo có bản sắc không ?
Trong bốn tôn
giáo lớn hiện nay, là Aán giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo và Phật giáo,
thì Phật giáo có một điểm nổi bật khác hẳn ba tôn giáo kia. Ðó là, trong
ba tôn giáo kia đều là tôn giáo thần quyền, tôn thờ một thượng đế sáng tạo
vũ trụ, Phật giáo trái lại, không công nhận điều đó. Vì thế có người cho
rằng Phật giáo không phải là một tôn giáo, vì theo quan niệm truyền thống
phương tây đã là tôn giáo thì phải công nhận một thượng đế sáng tạo. Nếu
hiểu biết tôn giáo như thế thì rõ ràng Phật giáo không phải là tôn giáo.
Nhưng nếu hiểu tôn giáo là một tín thuyết cho rằng đời sống con người
không chấm dứt trong nấm mồ sau khi chết, thì Phật giáo cũng là một tôn
giáo như ba tôn giáo kia. Dù thế nào đi nữa bảo rằng Phật giáo là một tôn
giáo thì cũng không thêm gì cho Phật giáo, mà bảo rằng Phật giáo không
phải là một tôn giáo, thì cũng không bớt cái gì cho Phật giáo. Trước sau
thì Phật giáo vẫn là Phật giáo. Nhưng ở đây vì thói quen thông thường
chúng tôi xem Phật giáo là một tôn giáo.
Ðiểm nổi bậc khác
nữa là trong lịch sử truyền giáo của mình đạo Phật không dùng vũ lực để
cưỡng bức, không dùng tiền bạc cơm áo để mua chuộc, dụ dỗ. Có người làm ra
vẻ đa nghi và bảo : Phật giáo không dùng vũ lực vì Phật giáo không có khí
giới, không có binh lính; Phật giáo không dùng tiền bạc, cơm áo, vì Phật
giáo nghèo. Các tu sĩ Phật giáo há không tự xưng là “bần tăng” đó sao. Giá
Phật giáo có đủ vũ lực, có thừa tiền bạc thử xem.Theo ý những người này,
Phật giáo không dùng tiền bạc để dụ dỗ, không dùng vũ lực để ép buộc,
chinh phục, chỉ vì Phật giáo không có hai thứ đó.
Ðể giải tỏa nghi
ngờ này, chúng tôi chưng dẫn một bằng chứng lịch sử.
Vào những năm
260, 250 trước kỷ nguyên Gia Tô, Ấn Ðộ có một ông vua hùng tài là A Dục
(Acoka). Trước khi biết đạo Phật, ông là một hôn quân bạo chúa, chuyên đi
chinh phạt. Nhưng từ khi biết đạo Phật, thành Phật tử, ông trở nên hiền
lành, đạo đức, từ bỏ mọi hành vi gian ác, chuyên làm việc thiện.
Ngay ở nước ta,
vào hai thời đại Lý Trần, Phật giáo rất thịnh đạt. Dù thế Phật giáo không
uy hiếp ai, cưỡng bức ai theo đạo Phật. Hai giáo khác là Lão và Khổng vẫn
tự do pháy triển.
Truyền thống của
Phật giáo là chỉ truyền giáo bằng chính hình ảnh, chính đời sống của Ðức
Phật, bằng giáo lý Ðức Phật và bằng đời sống cao đẹp của người truyền
giáo.
Thuở Phật còn
sinh thời, một đệ tử của Phật, ngài Phú Lâu Na, đi truyền giáo ở một vùng
xa lạ. Phật hỏi ông, nếu người xứ đó chửi mắng ông, đánh đập ông, thậm chí
sát hại ông, thì ông nghĩ sao, ông có oán trách họ không ? Ông trả lời,
không những ông không oán trách họ mà ông còn cám ơn họ.
Ngoài ra, Phật
giáo cũng có những tự viện, những phương pháp tu hành, những tu sĩ, những
tín đồ, những kinh điển, mà mục lục của nó, năm 1930, đã in hơn 1500 trang
sách, khiến cho nhiều người choáng ngợp. Như thế, rõ ràng đạo Phật có một
bản sắc riêng biệt, không thể lầm lẫn với tôn giáo khác.
Chúng ta trả lời
dứt khoát là có. Ðạo giáo chúng ta được sáng lập bởi một con người vốn
cũng chỉ là người như chúng ta, nhưng là một con người vĩ đại, nhờ tu hành
mà diệt trừ mọi xấu xa, tham sân si, một con người gồm đủ bi, trí, dũng,
mà thành Phật, đấng giác ngộ hoàn toàn.
Chúng ta tự hào,
không phải vì đức Phật là một tiên tri, không phải vì đức Phật là con một
thượng đế. Mà chỉ vì đức Phật là một người giác ngộ.
Chúng ta đều
biết rằng đứng trước cái khổ, sinh, già, bệnh, chết mà muôn loại phải chịu
đựng, đức Phật quyết tâm tìm đường diệt khổ, và Ngài đã tìm ra. Cho nên
chúng ta tự hào không những về đời sống cao đẹp của giáo chủ chúng ta, mà
còn vì giáo lý đúng sự thật của Ngài, do Ngài phát hiện ra, chứ không phải
sáng tạo ra.
Tất cả triết lý
của đạo Phật đặt nền móng trên thuyết nhân quả, nghĩa là không có cái gì
tự nhiên mà có, mà nó có do nhiều nguyên nhân hợp thành tạo ra nó.
Ðạo lý này nếu
xét theo chiều dọc thời gian thì là đạo lý Vô thường, xét theo chiều ngang
không gian, thì là đạo lý Vô ngã.
Không Vô thường
sao được, để cho có trái, hoa không còn là hoa ! Nhưng cũng cần lưu ý
rằng, nếu chỉ có hoa không thôi, thì không thể thành trái được. Ðể cho
trái, hoa cần kết hợp với nhiều nhân khác nữa như nước, như không khí, như
ánh sáng...
Hoa cho trái,
nhưng để có hoa thì cũng cần nhiều nguyên nhân tạo thành nó. Cứ ngược dòng
thời gian n hư thế, nhân này lại cho nhiều nhân khác tạo nên nó. Mà đã có
nhân thì có quả. Hoa sinh trái, trái lại sinh cây. Vậy quả lại thành nhân.
Thế thì quả là quả của nhân có trước nó, và nhân của một quả có sau nó.
Như thế, nhân của cái quả thì vô thỉ, mà quả của cái nhân thì vô chung..
Chúng ta vừa nói,
muốn có quả thì phải có nhiều nguyên nhân tạo thành nó. Vậy thì không có
cái gì độc lập tồn tại, mà phải nương náu vào nhau mà tương sinh, tương
thành, đó là đạo lý Vô ngã. Ðạo lý này được diễn tả tuyệt vời trong Kinh
Hoa Nghiêm với thuyết pháp giới trùng trùng duyên khởi : một là tất cả,
tất cả là một. Một cái búng tay cũng chuyển động thế giới ba nghìn. Cả vũ
trụ ba nghìn cũng biểu hiện trong một mảy lông mùa thu. Lời của đức Khổng
Tử “một lời nói có thể đựng nước, một lời nói có thể mất nước” (nhất ngôn
khả dĩ hưng bang, nhất ngôn khả dĩ táng bang) có cái gì tương tự. (Cũng
tương tự như thế, khi ErnstMach cho rằng trong khối một vật, lực quan tính
của nó, sức cản của nó chống lại chuyển động là kết quả của ảnh hưởng toàn
thể vũ trụ đối với nó (Trịnh Xuân Thuận, La mélodie secrète, tr. 337)
Sự vật đã vô
thường thì không thể vô ngã : không vô ngã sao được khi nó luôn luôn biến
đổi hủy diệt, đâu còn cái gì là ngã, mà đã vô ngã thì không thể không vô
thường: không vô thường sao được khi nó do cái khác nhau tạo thành ? Mà
như chúng ta đã nói trên kia, đạo lý Vô thường là đạo lý Nhân quả xét theo
chiều thời gian, đạo lý Vô ngã là đạo lý Nhân quả xét theo chiều không
gian. Vậy thì không gian, không tách rời khỏi thời gian, thời gian không
thể tách rời khỏi không gian. Mà cả hai kết hợp lại thành một thể thống
nhất :Không-thời-gian.
Ðạo lý Vô
thường, Vô ngã là nguồn gốc của đau khổ, của luân hồi sinh tử, mà cũng là
nguồn gốc của giải thoát niết bàn. Nguồn gốc của đau khổ là vì lẽ, đời là
vô thường, vô ngã, mà chúng ta cứ tưởng, cứ mong muốn nó là thường, là
ngã, và sống mê muội trong tà kiến đó.
Nguồn gốc của
giải thoát là vì nếu không vô thường thì Tất Ðạt Ða, làm sao thành Phật
được; nếu không vô ngã thì làm sao chúng ta có quan hệ với tha nhân để
thực hiện đức từ bi, một đức cần thiết cho thoát.
Nhưng đạo lý
nhân quả không đơn giản, do đó có người không chấp nhận nó, hoặc hiểu lầm
nó, lẫn lộn nhân quả, lấy nhân làm quả, lấy quả làm nhân. Một bậc đại trí
như đức Lão Tử mà cũng phạm phải sai lầm này khi ngài chỉ trích đức Khổng
Tử mà bảo rằng chính nhân nghĩa đã làm cho xã hội loạn lạc, nát bét. Ngài
đã đảo lộn nhân quả. Chính vì xã hội loạn lạc nát bét mà người ta cần cầu
đến nhân nghĩa, chứ đâu phải ngược lại, nhân nghĩa làm cho xã hội nát bét.
Cũng vì không biết đạo lý Nhân quả, mà con người đã tự gây lấy cho mình,
hay gây cho đồng bào, đồng loại biết bao tai ương, họa hoạn. Chúng ta bảo
rằng đức Phật có cả hai đức từ bi và trí tuệ. Hai đức này bổ xung cho
nhau, không thể thiếu nhau.
Từ bi mà không
trí tuệ thì sẽ tác hại, như một bà mẹ thương con không đúng cách, nuông
chiều theo mọi sở thích của nó, chỉ là làm hại nó.
Trí tuệ mà
không từ bi thì cũng tác hại ví như nhờ trí tuệ mà các tiến bộ khoa học kỹ
thuật hình thành. Nếu không từ bi mà sử dụng các tiến bộ đó thì sức tàn
phá sẽ vượt ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Ví như sử dụng năng lượng
hạt nhân. Nếu sự dụng này với sự chỉ đạo của lòng từ bi, thì lợi ích thật
vô cùng, nhưng nếu như dưới sự chỉ đạo của ác tâm, thì tai họa cũng không
lường được.
Từ bi không
trí tuệ như người có tim mà không óc; trí tuệ mà không từ bi thì cũng như
người có óc mà không tim.
Tuy nhiên có từ
bi trí tuệ vẫn chưa đủ, nếu không có dũng để thực hiện nó. Biết bao người,
từ bi có, trí tuệ có, nhưng vì không có dũng nên chùn lại trước mọi khó
khăn, nên không làm được gì. Ðức Phật ngoài bi trí, lại còn có dũng. Chíng
nhờ đức dũng mà Ðức Phật từ bỏ đời sống xa hoa vật chất uy quyền mà mọi
người ham muốn, chưa có tìm muôn phương nghìn cách để đạt cho có, có rồi
thì mọi cách để giữ cho được. Cũng chính nhờ có đức dũng mà đức Phật chống
lại mọi tư tưởng sai lầm đương thời đang thống trị xã hội, và đi tìm chân
lý.
Nhưng cái dũng
nơi đức Phật là cái dũng của bậc thánh nhân chứ không phải cái dũng của
người anh hùng. Nghĩa là cái dũng của bậc chiến thắng mọi thói hư, tật
xấu, mọi ý kiến sai lầm chất chứa từ lâu đời nơi mình, chứ không phải cái
dũng của kẻ chiến thắng kẻ khác; và theo Kinh Pháp Cú:
“Dầu tại bãi chiến trường
Thắng ngàn ngàn quân địch
Chẳng bằng tự thắng mình
Thắng mình là cao nhất”
(Pháp cú câu 103,
theo bả dịch của Hòa Thượng Thiện Châu)
Cũng là cái dũng
mà đức Khổng Tử gọi là “Nam phương chi cường” (cái mạnh cái dũng của
phương Nam) của người quân tử đối với “Bắc phương chi cường” (cái dũng của
người phương Bắc) của kẻ dũng sĩ.
Thế nào là cái
mạnh, cái dũng của phương Bắc, thế nào là cái mạnh cái dũng của phương Nam
?
Theo đức Khổng
Tử, cái mạnh cái dũng của phương Bắc (của người Mông Cổ ? Người Mãn Châu
?) là cái dũng của kẻ “bắt cọp dữ rồi lội qua sông”, cái mạnh, cái dũng
của phương Nam (của người Hán ?) là khoan hòa nhu thuận, không trả thù
chống lại kẻ vô đạo.
Và lẽ tất nhiên
đức Khổng Tử chọn cái dũng của phương Nam.
Và cũng lưu ý ở
đây đức Khổng Tử không sử dụng từ tiểu nhân để đối lập với từ quân tử, mà
dùng từ “cường giả”.
Vậy thì bi, trí,
dũng, kết hợp nhau lại tạo nên một cái kiềng ba chân. Thiếu một chân,
kiềng sẽ ngã, mà cũng không còn phải là kiềng nữa. Tự hào về đức Phật, về
giáo lý của Ngài là một điều cần thiết cho người Phật tử. Người công dân
của một nước có tự hào về những người anh hùng, về văn hóa của dân tộc
mình thì mới tin tưởng vào tương lai của dân tộc mình; để mà vượt mọi
chông gai, trở ngại. Người tín đồ của tôn giáo có tự hào về giáo chủ mình,
về giáo lý của đạo mình, thì mới không bị các ngoại thuyết lung lạc. Trong
ba mươi bảy đạo phẩm, thì đức tin là một đạo phẩm nằm trong năm căn và năm
lực; tín, tấn, niệm, định, huệ.
Tương tự thế, đức
Khổng Tử cũng có nói : “Người mà không có đức tin sẽ không biết làm gì. Cỗ
xe lớn không có càng, cỗ xe nhỏ hông có gọng, thì làm sao chuyển (nhân nhi
vô tín bất tri kỳ khả dã, đại xa vô nghê, tiểu xa vô ngột kỳ hà dĩ hành
tri tai) trong cuộc sống, đức tin cần cho chúng ta như la bàn cần cho
người thủy thủ khỏi mất phương hướng giữa phong ba bão táp trong đại dương
mênh mông. Ðặc biệt, niềm tin vững chắc nơi đức Phật, nơi đạo Phật cần
thiết cho người Phật tử giữa một nơi xa lạ, một nơi không cùng tín ngưỡng,
để cho mình tự tin nơi mình trong cuộc sống. Và tin vào đạo Phật cũng là
tin vào dân tộc mình vì đạo Phật là đạo đa số người Việt Nam.
Giáo chủ chúng ta
vĩ đại như vậy, đạo gíao chúng ta vừa cao siêu, vừa thực tế như vậy, thế
mà cũng có một số người bỏ đạo, hay cải đạolà vì sao ?
Trước hết có
những người không hiểu đạo mình. Lỗi tại ai ? Cả tập thể và cá nhân chia
phần trách nhiệm.
Kế đó, có người
bỏ đạo, vì áp lực vật chất hay tinh thần, đặc biệt ở những nước toàn thủ,
không bao dung tôn giáo và có những người bảo “nhập gia tùy tục, đáo gia
tùy khúc “ (vào nhà người, sinh hoạt theo họ, gặp con sông, theo khúc
quanh của nó). E họ hiểu lầm câu ngạn ngữ, vì tôn giáo không phải là một
tập tục, không phải là một khúc sông.
Và cũng vì áp
dụng sai câu ngạn ngữ này, mà có người bày ra “thiền ôm” vì họ thấy người
tây phương ôm nhau để biểu lộ tình cảm. “Thiền ôm” là chỉ một sản phẩm phi
Phật giáo, vì Phật giáo chủ trương viễn ly. Tác giả nó có lẽ chỉ nghĩ đến
“tùy duyên” mà quen nghĩ đến bất biến”. Mà tùy duyênvà bất biến là hai vế
gắn liền nhau, không thể rời nhau ra hai cực của một thanh nam châm.
Tình cảm nào,
niềm tin nào cũng cần có sự khuyến khích, nâng đỡ của tập thể, nếu không
nó sẽ yếu đuối đến chỗ chết dần, chết mòn vì con người mang trong nó xã
hội tính. Rời xã hội con người không thể sống, không thể tồn tại, không
thể phát huy được năng lực của mình.
Do đó một ngôi
chùa, một niệm Phật đường, thật là hữu ích. Ngôi chùa mái cong, tượng Phật
từ bi, tiếng tụng niệm đầy đạo vị, tiếng chuông trầm hùng, tiếng mõ u mặc,
đã giúp chúng ta khuyến khích lẫn nhau, cùng nhau tâm sự. Do đó, chùa phải
là nơi thanh tịnh trang nghiêm, không phải là nơi bàn chuyện áp phe. Các
tu sĩ phải là những người giới hạnh tinh nghiêm, khiêm nhường, không khoe
trương buồn cười kiểu “Thượng Tọa Tiến Sĩ”. Ghi thêm bằng cấp sau đạo
hiệu, sau mấy chữ “đại đức,” “thượng tọa,” “hòa thượng “ không tăng thêm
giá trị gì cho một tu sĩ, mà còn trở thành một chuyện rởm, ngớ ngẩn, buồn
cười. Người đời vì nhu cầu nghề nghiệp mà trình bằng cấp ra, chứ đâu nó có
tăng gì cho tư cách của họ, huống chi là cho một tu sĩ. Có người cho rằng
tu hành là một việc riêng của bản thân, không dính lứu gì đến chùa chiền,
không dính lứu gì đến tập thể. Khi nói thế, là họ quên, hay klhông biết
ảnh hưởng to lớn của hoàn cảnh. Cho nên nơi nào có điều kiện, nên lập một
thiền đường hay một ngôi chùa.
Trên kia chúng ta
nói đến những vấn đề mà người nước ngoài gặp phải khi sống trong một môi
trường xa lạ cùng giải pháp đối phó. Bây giờ chúng ta nói đến vấn đề
chung, nghĩa là những vấn đề không riêng gì của người nước ngoài, mà cũng
là những vấn đề của người bản địa, cùng thái độ của đạo Phật trước các vấn
đề đó.
Vấn đề thì có quá
nhiều, ở đây chúng tôi chỉ nói đến mấy vấn đề nổi bật:
-Vấn đề bảo vệ môi sinh
-Vấn đề phá thai
-Vấn đề kỳ thị chủng tộc
-Vấn đề căng thẳng thần kinh.
1. Vấn
đề bảo vệ môi sinh.
Vấn đề này gồm
mấy vấn đề nhỏ :
-Tàn phá rừng rú
thực vật
-Hủy diệt các
loại động vật
-Ô nhiễm môi
trường
Ðứng trên quan
điểm nhà Phật, đời sống con người gắn liền với ngoại cảnh, chủ thể không
thể tách rời với khách thể. Con người không thể tách rời thiên nhiên mà
tồn tại. Mà sự thực là như vậy. Rừng rú là lá phổi của con người, nó thanh
lọc làm cho bầu khí quyển trong sạch. Nó giữ lại nước trong mùa mưa để
tránh lụt lội, và cung cấp nước khi hạn hán để xử dụng.
Ðạo Phật là một
đạo bảo vệ sự sống, đề cao sự sống không những của loài người mà còn của
các loài khác. Phật giáo không chủ trương rằng loài vật là thực phẩm của
loài người. Nhưng vì nghiệp báo, chúng ta thác sinh vào một cảnh giới mà
sự sống của loài này xây dựng trên sự chết của loài khác, thì chúng ta nếu
không tránh được giới sát cũng nên hạn chế tối đa sự giết chóc đến mức
“cần thiết”. Ðừng lấy sự săn bắn, sự đi câu làm trò giải trí. Một người
không chủ trương giới sát như Mạnh Tử, khi chủ trương về mặt xã hội như
sau: “người già cả được mặc lụa, được ăn thịt” (lão giả ý bạch thực nhục)
mà còn bảo: “thấy” (một con vật) sống không nhẫn tâm thấy (nó) chết” (kiến
kỳ sinh bất nhẫn kỳ tử). Do đó người Phật tử tán thán việc làm của nữ tài
tử Brigitte Bardot chống lại sự giết chóc bừa bãi loài vật. Nhưng có lẽ
những nhà môi sinh chủ trương bảo vệ loài vật chính vì để bảo vệ loài
người, trái lại Phật giáo chủ trương bảo vệ loài vật, là chính vì loài
vật.
Xã hội công
nghiệp đã làm ô nhiễm môi trường bằng nhiều cách, do các chất ô nhiễm mà
nó thải ra, từ nhà máy, từ xe cộ, từ các vật phế thải khác, mà khủng khiếp
hàng đầu là ô nhiễm do các vũ khí dùng trong chiến tranh, và đặc biệt, như
bom nguyên tử, Mỹ dội xuống nước Nhật bản, hay vũ khí hóa học Mỹ đã sử
dụng ở Việt Nam. Ngoài tác dụng sát hại lớn lao tức thời, di độc tai họa
của chúng còn kéo dài triền miên mãi về sau.
Một trong những
từ mà chúng ta thường gặp trong sách vở nhà Phật là từ “thanh tịnh”, nghĩa
là trong sạch, trong sạch trong tâm cũng như ngoại cảnh. Trong các tông
phái Phật giáo, có tông Tịnh Ðo chỉ đường cho coin người về cõi Tịnh Ðộ,
cõi trong sạch không có ô trọc, ô nhiễm.
2. Vấn đề phá thai.
Theo nhà Phật,
thì khi một tinh trùng gặp một noãn tử, mà không có thần thức thì không
thể có bào thai, vì noãn tử và tinh trùng mới chỉ là phần vật chất. Ðể
thành một bào thai, cần phải có phần thần thức can dự vào. Nhưng thần thức
can dự vào lúc nào ? Nó can dự ngay vào lúc tinh trùng và noãn tử gặp
nhau. Vì thế phá thai là một hành động sát nhân.Có người cho rằng cần một
thời gian thai nhi mới thành. Vậy phá thai trước thời gian đó không phải
là hành vi sát nhân vẫn còn là vấn đề tranh cãi. Nhưng theo hình luật, khi
một yếu tố cấu tạo thành tội phạm còn nghi ngờ, luật pháp cho người bị xử
án được hưởng sự nghi ngờ đó, nghĩa là coi yếu tố nghi ngờ đó như là không
có, thì tại sao chúng ta không cho phôi thai hưởng sự nghi ngờ đó, nghĩa
là xem như phôi thai đã là một sinh mệnh ngay sau khi noãn tử và tinh
trùng gặp nhau ?
3. Vấn đề kỳ thị chủng tộc.
Dĩ nhiên đồng bào
chúng ta ai cũng là nạn nhân của sự kỳ thị này, vì họ đến nước ngoài không
với tư cách là kẻ xâm lăng, kẻ thống trị, coi người dân bản địa như rơm
rác, như nô lệ. Mà chính người dân bản địa cũng là nạn nhân, vì họ thấy
xấu hổ nhục nhã vì thái độ kỳ thị của một số đồng bào họ. Họ không thể
không nhớ đến một tai họa khủng khiếp do nạn kỳ thị chủng tộc của chế độ
Ðức quốc xã gây ra cho thế giới và cho chíng đất nước họ. Quan điểm của
Phật giáo như thế nào về vấn đề này ? Phật giáo phân chia thế giới chúng
sinh ra sáu cõi: Trời, Người, A Tu La, Ðịa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc sinh. Chúng
sinh vì cộng nghiệp nào thì thác sinh vào cảnh giới đó. Loài người chúng
ta lấy thế giới này làm y báo, vì chúng ta có cùng chung cộng nghiệp
người. Thế thì vì lý do gì mà chúng ta phân biệt nhau, coi thường nhau ?
Ðiều đáng buồn là trong số đồng bào Phật tử chúng ta, vì bị “nhiễm độc” mà
có người cho rằng sự kỳ thị chủng tộc là một sự tự nhiên, nếu không thì
tại sao lại có người da trắng, người da màu; họ quên rằng trắng cũng là
một thứ màu như các thứ màu khác. Hoặc họ a dua, họ nịnh bợ người dân bản
địa để cầu sự an thân theo kiểu tru theo chó sói, mà bảo rằng dân tộc này
là đáng ghét, dân tộc nọ là đáng khinh, và gọi người Ả Rập là “Rệp” với
giọng khinh bỉ, mà không biết rằng có một thời có người gọi người Việt ta
là “Mít” (annamite) với giọng kỳ thị.
4. Vấn đề cuối cùng mà chúng tôi muốn nói ở đây là vấn đề căng thẳng thần kinh.
Ðời sống ở các
nước công nghiệp nói chung, cũng như ở nước Pháp nói riêng, thật là vội vã
gấp gáp, không có vẻ thung dung, chậm rãi như ở các nước nông nghiệp.
Ngoài đường người ta vội vã như chạy. Ở xí nghiệp, người ta vội vã sản
xuất cho thật nhanh, cho thật nhiều. Người ta vội vã kiếm cho thật nhiều
tiền để mua cho bằng được một số quần áo, đúng thời trang, một cái xe hơi,
nếu không đẹp hơn thì cũng bằng bộ quần áo cái xe của người bên cạnh.Người
ta thấp thỏm lo âu, đau khổ trước nạn thất nghiệp do máy móc cướp đoạt
việc làm của con người. Ðã thế, phim ảnh ở rạp chiếu bóng, đài truyền
hình, mang tính chất thương mại, chiều bản năng thấp kém con người nên đầy
dẫy hình ảnh bạo động, khích dâm. Tất cả những điều đó chỉ khiến cho thần
kinh con người căng thẳng. Phương pháp thiền của nhà Phật có thể góp phần
trị liệu chứng căng thẳng thần kinh đó. Tất nhiên mục đích cứu cánh của
thiền không phải là làm dịu thần kinh, mà là mục đích, cứu cánh của nó là
đưa hành giả đến giác ngộ, đến giải thoát. Nhưng chúng ta có thể xem thần
kinh êm dịu cũng là một phần, là bước đầu của giải thoát. Thiền cũng không
giải quyết được cho chúng ta nạn thất nghiệp, cũng không đem lại cho chúng
ta tiền bạc để mua sắm quần áo xe hơi. Nhưng thiền đem lại cho ta sự kinh
an, sự bình tĩnh, sự minh mẫn, để mà phân tích cội nguồn vấn đề mà tìm
phương giải quyết, vì rằng hiểu rõ một vấn đề là giải quyết được một nửa
vấn đề.
Sống ở xứ người,
xa chùa chiền, xa quê hương, phải chịu nhiều nỗi bỡ ngỡ, lạc lõng, nhất là
những ngày đầu tiên, chúng ta dễ mất tự tín ở chính mình.
Phật giáo và
những đồng đạo, tăng sĩ cũng như cư sĩ, giúp ít cho chúng ta không ít, đem
lại cho chúng ta niềm tự tín trong cuộc sống mới.
Bùi Minh.
---o0o---